Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

ĐỌC VÀ ĐỪNG KHÓC

Tự do của tháng Tư


Lần đầu tiên tôi chạm
tay đến ngày 30-4 là khi tôi gặp nhiều nhà báo Mỹ quay trở lại Việt Nam – cuộc
đoàn tụ 35 năm sau cuộc chiến – và phỏng vấn từng người một trong họ.


Ông Neal Ulevich – một nhà
báo của AP tại Sài Gòn – già nua, cầm vụng về những cuốn giấy tròn, có ảnh của
tất cả những ai ông gặp được trong thời gian ông ở văn phòng. Phòng của AP tại
Sài Gòn nằm trên tòa nhà Eden
– bây giờ đã thành tro bụi – đối diện nhà hát thành phố và có thể dễ dàng nhìn
thấy từ Caravelle. Ông nói với tôi từ cửa sổ Caravelle sang trọng: “Bạn muốn
chụp ảnh à? Vậy để tôi đi ra ngoài, bạn có thể chụp tôi với Eden .” Ông hạnh phúc khi thấy Eden vẫn còn ở đấy.
Tôi gặp Edith Lederer, Carl Robinson, Perry Dean Young, Don North, Jacques
Leslie. Tôi đặc biệt nhớ Perry.  Ông đã tặng tôi một quyển sách, kể về nỗi
đau của ông khi 2 người bạn ông Dana Stone và Sean Flynn. Nhưng trên hết, ông
ngồi một cách rất cô đơn trong phòng khách sạn, và nói với tôi rằng ông rất sợ
cuộc chiến đó, sợ đến mức phải bỏ đi, và không quên được người bạn mình đã mất
xác ở Đông Dương.


Một thời gian sau đó, tôi gặp
bà mẹ Bùi Thị Mè. Bà là người phụ nữ đẹp thật đẹp. Bà tinh anh, thông minh và
dịu dàng. Bà thích mặc áo bà ba đen. Cứ sau mỗi năm gặp lại, bà lại yếu hơn. Bà
chính là người đã mất cả 3 người con trai trong chiến tranh Việt Nam . Bà cũng là
người đã thuyết phục ông Dương Văn Minh, dựa vào sự cảm mến ông dành cho bà và những
lo lắng về cuộc tắm máu cuối cùng, để tiến đến đầu hàng vô điều kiện. Bà chưa
kể cho tôi nghe về chiến tích, chiến công của bà bao giờ. Nhưng bà hay nhắc đến
Ông Minh sẵn sàng đối thoại, nhắc đến con trai, nhắc đến cái tin con chết đến
dồn dập mấy ngày liên tiếp nhau. Rồi bà khóc. Bà bảo: Tối nào bà đi ngủ cũng
thấy 3 con trai nhìn bà từ ảnh trên tường.


Mỗi năm lớn hơn, tôi lại nhìn
thấy ngày 30/4 ấy theo một cách khác. Đầu tiên, tôi hào hứng với cờ hoa, hào
hứng như bao đứa học sinh cấp 2, cấp 3, viết 1 bài phát biểu cảm nghĩ cho
trường, lớp, đọc to dưới cờ, rồi… được 2 ngày nghỉ học. Sau đó, tôi cảm thấy
hoang mang.


Giờ thì chỉ tự hỏi, sao mà
cuộc chiến ấy vô tâm nhiều như vậy. Nhiều tay nhà báo nước ngoài đến Sài Gòn,
rồi trở nên nổi tiếng. Tôi đọc thấy người ta bảo hồi ấy làm báo mà đến Việt Nam là được coi
như có “số má” ghê lắm rồi. Nổi tiếng nhanh lắm. Nhưng có biết bao nhiêu tay
nhà báo Việt Nam ,
lao ra chiến trường, viết bài chụp hình thuê cho các anh phóng viên nước ngoài,
rồi chết chẳng ai đề tên, nhớ mặt. Cuộc chiến ấy vừa hào hoa, tráng lệ, vừa vô
tâm khủng khiếp. Người ta có thể vô tâm như khi kể một câu chuyện quân ta thắng
quân địch chết như thể lũ trẻ con chơi ô ăn quan tao thắng mày thua. Người ta
có thể chà đạp lên cả cái sự u buồn của cái chết – của những cái chết đã thôi kêu
gào rất lâu rồi – cứ gọi tên mãi nó là thắng con này, đè bẹp thằng nọ.


Có cái chết nào màu xanh màu
đỏ đâu. Có ai thèm nhớ cho cái chết in dấu lên thân thể người ta bằng súng,
đạn, dao găm đâu. Chết là màu đen. Sự đạo đức ở đời là nhớ người đã chết cho mình
cái gì để mình sống tiếp, chứ ko phải vì họ chết nên ta chà dẫm lên họ gọi tên
họ là con thua cuộc anh thắng cuộc.


Rồi ba mươi mấy năm trôi qua.
Cái sự vô tâm đến đáng ngạc nhiên ấy nó phủ lên cả nước mắt quá khứ. Có bà mẹ
nào mất con mà ko đau khổ? Sao không viết về bà mẹ Việt Nam với bà mẹ lính ngày xưa ở miền Nam này giờ côi
cút nghèo khổ ra sao? Hay ai cũng chỉ cần mẹ để lộng kiếng trang hoàng thêm vào
cái tiểu sử công ty là “Phụng dưỡng mẹ VN anh hùng”, “chăm sóc bà mẹ VN anh
hùng”. Mẹ lộng kiếng có cô đơn không? Mẹ lính nghèo Sài Gòn ngày xưa có đau
không? Đời sống sao mà vô tâm thế? Con chó trên vỉa hè còn biết xót thương con
chó già không có miếng ăn mà nhá ra cục xương nhường cho ăn. Người sao cứ ve đi
vẩn lại giữa anh hùng với ko anh hùng, cộng hòa với cộng sản, lộng kiếng và kết
hoa. Còn các mẹ… già cứ già, cô đơn cứ cô đơn, mất con cứ là mất con – nhưng
đời đời trang hoàng lộng lẫy hoặc đời đời cô đơn quay quắt.


Ông nhà báo già đến Sài Gòn
mấy tháng trời, quay lại còn nhớ Eden, quay lại còn nhớ tôi gặp anh lính đã cho
tôi ăn, dắt tôi ra cánh đồng. Người trong một cõi đất thì cứ phỉ nhổ vào mặt
nhau, gọi tên nhau cộng hòa, cộng sản, treo cờ chửi bới nhau, lập nick sỉ vả
nhau, đua nhau gọi tên chỉ mặt quá khứ theo liều lượng mình yêu thích.


Tôi chẳng chờ đợi thông tin
công tâm – vì thông tin thời nào mà chả thế, nó được tạo ra vì người ta thích
thế. Nhưng cái hồn nhiên của anh lính Sài Gòn hát nhạc sến đưa đẩy cô gái nghèo
rồi thở than vì ra trận chắc cũng chẳng khác với cái hồn nhiên của anh Nguyễn
Văn Thạc lúc viết nhật kí mà hi sinh đâu. Vì một tham vọng, sự căm hờn vuông
vức và đầy chủ ý, người ta cứ nhìn nhau như “lính chế độ cũ”, “mấy ông bộ đội
già” rồi truyền cả vào lòng của cháu con. Hờn căm ko còn nguyên si hình dáng thì
hóa ra là dị tật bấn loạn. Mù lòa thông tin rồi sinh ra nghi hoặc thù giận.
Chẳng thấy gì ích lợi hay ho trong ấy cả.


Tôi cũng chẳng hiểu tới cái
thời gì rồi mà người ta còn đặt tên trường học là Đuốc Sống, dạy tụi trẻ con
yêu nước là phải tẩm xăng zô mình như cái anh Tám zô zanh nào đó. Tôi thì nhớ
nhiều cuộc đối thoại với mấy ông già tôi quen, có ông ngồi kể về cái kệ sách
hơn 1000 quyển của gia đình mình được “quyên góp” ra sân xã rồi thiêu đốt thành
tro bụi. Giờ gần 80 tuổi, làm khoa học, mà ông già cứ phải mày mò mãi mấy quyển
sách cũ ở Sài Gòn – trước kia đã có đầy tủ mà thành tro bụi mất rồi.  Rồi
giờ ai cũng có thể căng biển “ủng hộ nạn nhân chất độc da cam” đi làm tiền
thiên hạ.


Nhìn  quanh nhìn quất,
thấy đâu đâu cũng là cái ba mươi mấy năm ấy mãi mãi chẳng phai mờ. Quẩn quanh
hoài. Quẩn quanh hoài. Rồi cái mớ lằng nhằng này sẽ còn mãi, còn mãi, khi người
ta cứ cấu véo lấy thương đau mà nhai nuốt như món hời, vết vẹo của thằng giang
hồ, lên chức, thành quan vì “từng chiến đấu” rồi cứ tung hê mãi mãi cái hứng
thú vô loài của cuộc đau thương dài hàng chục năm này.


Chẳng biết vì cái gì. Hay vì
cái tham lam của riêng mỗi “hình tượng anh hùng” đằng đằng sát khí mà mỗi bên
hăm hở?


 Ko biết.


Chỉ thương mẹ Mè, mẹ nói mẹ
tối nào đi ngủ cũng nhìn 3 con trai trên vách, thương ông già Perry Dean Young,
chỉ nói đi nói lại mãi, “Tôi sợ” vì mất người bạn thân không tìm được xác.
Người trong cuộc sao chẳng lên giọng, gân cổ gì… như những ai chẳng mất gì từ
cuộc chiến ấy…


30/4. Tự do đấy!


Khải Đơn


 

TÁI KINH (1)


Nói chuyện  linh tinh
trước


*** Tên cái đề án này khí
dài, nguyên văn Đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng theo
hướng nâng cao hiệu quả, năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế giai
đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.
Tái kinh là cách viết vừa cho
nhanh vừa  cho ra sìtai Beo, không hề có ý cợt nhả.


*** Trên Việtnamnet hôm nay
viết thế này: Còn theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, năm 2009, Bộ Kế
hoạch Đầu tư đã chuyển Quốc hội Việt Nam 1 tài liệu dày 200 trang về
tái cấu trúc nền kinh tế, đến nay trải qua mấy năm rồi tái cấu
trúc đến đâu, có làm hay không, không thấy nói đến, nay lại tiếp tục tái cấu trúc.
Đề án này khác với trước là nó
chỉ có 14 trang, đã tóm gọn không còn dàn trải kể lể mà không có
giải thích.


Không rõ là ông chuyên gia
kinh thế
Bùi Kiến Thành hay phóng viên Trần Thủy  nhầm (dùng chữ này cho nó nhẹ nhàng
chứ định bổ một chữ khác nặng đô hơn). Tái cấu trúc nền kinh tế buộc phải song
song với thay đổi thể chế thượng tầng, còn tái cơ cấu thì chỉ đơn giản là việc
dọn dẹp cho nó gọn gàng ngăn nắp lại mà thôi. Cùng có cấu đấy nhưng khác nhau
một trời một vực.


Cái nhầm thứ hai,
cũng không biết của ai trong hai người, khi bảo Tái kinh chỉ có 14 trang. Bản
tóm tắt 23 trang, bản đầy đủ 64 trang. Hoặc là lười không đọc hoặc là không có
bản gốc nhưng sĩ diện khoe mẽ hoặc là đọc đến trang 14 rồi...tưởng hết.


Sở dĩ Beo nhắc đến chi tiết
số trang này là vì, nó phơi ra một sự thật không mới mẻ gì: các loại nhà của ta
là cấp chuyên gia trong việc phát ngôn cảm tính.


Chả cứ trong nước. Đến mười
mấy ông giáo sư tiến sĩ nọ kia bên Âu bên Mỹ cũng rất hồn nhiên kí tên vào một 
cái văn bản lập luận kiểu thế này: văn hóa nước nhà xuống cấp nguyên do bởi báo
chí bị cấm đoán. Lạ thiệt.


*** Nhưng cái này mới là lạ,
cực lạ luôn. Không hiểu các nghị chuyên nghiệp (nghị nghiệp dư chưa họp, Beo
nghĩ  ra đại trà còn là vui nữa) đọc kiểu gì lại thấy ra, cần phải có tiền
mới thực hiện được Tái kinh. Có vị phát biểu với báo giới rất đầy tính trách
nhiệm khi lo lắng không biết lấy nguồn tiền từ đâu.


Nhân nói chuyện nghị, hôm
nay anh Dương Khựa lên trang nhất với một câu chất vấn cực ngu,
hình như xe biển 80 ít bị phạt hơn
biển trắng. Beo không làm chính trị được, bởi gặp loại nghị thế là phạng không
xót: thứ nhất việc ấy phải hỏi anh Quang, Thăng đây ko ra ngã tư tuýt còi hay
đu đưa nắp capô nhá. Thứ hai, không có chuyện hình như (lại cảm tính) khi hỏi,
bởi anh hỏi hình như tôi cũng sẽ zả nhời, hình như léo phải thế.


Cái này đăng ở Thanh niên.
Soi sang Tuổi trẻ, một chị chọi lại anh Thăng, luật là thế nhưng phải nghĩ đến
cái tình dân đang khốn khó. Anh Thăng đau, dân sướng và bản báo được cái hình 
nghị gái rõ xinh trang nhất. Bạn Hà Cao chửi Thanh niên quả cũng có  cái
lí của bạn ấy, không oan phân nào.


*** Beo sẽ  diễn đạt
bằng ngôn ngữ của mình toàn bộ 4 đề án nhỏ trong  Tái kinh, nếu có
thời gian.


Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

NÓI PHẢI CỦ CẢI CŨNG NGHE (KÌ 1)

* tất cả những chữ in nghiêng
trong bài là trích dẫn từ  Bản Ý Kiến về
cải cách toàn diện Việt Nam. 
LINK
ĐÂY


  14 vị kí tên, thảy đều là
giáo sư từ các trường đại học ở các nước văn minh nhất thế giới.


Các tác giả khẳng định: tuy
bản thân các ý có thể “không có gì hoàn toàn mới” nhưng Bản Ý Kiến này vẫn rất
có giá trị, vì các phân tích trong đó theo tôi là có tính khách quan và khoa
học cao.


Beo đọc rất cẩn thận, 3 lần, và lần sau thất vọng
hơn lần trước về
tính khách quan
và khoa học cao,
 mà các tác
giả đã khẳng định.


Bản thân tính khoa học đã bao hàm trong nó tính
khách quan. Và yêu cầu đầu tiên để có được tính khoa học cao đó là phải tập hợp
được  các dữ liệu, từ gần đúng tới chính
xác nhất, trước khi bắt tay thực hiện bất cứ một loại công trình nào.


Thế nên, phần quan trọng nhất của Bản Ý kiến này nó
nằm ở mục C, đánh giá thực trạng và nguyên nhân. Đọc đi đọc lại, Beo thấy nó
như được tập hợp ra từ  báo chí lá cải hay
từ mấy bloggers thất nghiệp trong nước vậy. Ví dụ cụ thể:


  1. Về kinh tế


 Luật Đất đai
coi đất đai là sở hữu công, do đó dành cho chính quyền
quyền thu hồi đất của bất cứ ai.
Luật lại giao quyền này cho Ủy ban Nhân
dân ở mọi cấp, xuống tận cấp quận, huyện, với giá do
chính Ủy ban Nhân dân quyết định
nhằm mục đích “phát triển kinh tế”. Đây
chính là lý do nhiều đất đai mầu mỡ của nhân dân
bị thu hồi để làm khu phát triển công nghiệp, sân gôn,
hay xây nhà kinh doanh.


Những chữ bôi đỏ là từ sai ít
đến sai hoàn toàn. Việc thu hồi đất của chính quyền có rất nhiều chế tài đi kèm
(thậm chí là quá nhiều với 46 văn bản); UBND có nhiều cấp, cách viết như trên
dẫn tới cách hiểu cấp quận huyện cũng có quyền định đoạt giá cả bồi hoàn cho
người sử dụng đất; Và, các tác giả hãy dẫn chứng xem tất cả các sân golf đã và
sắp hiện hữu trên toàn cõi Việt nam, sân nào được xây nên từ vùng đất đai nông
nghiệp màu mỡ. (nhân đây Beo cũng mở ngoặc, với đặc điểm khá…đặc biệt, xây  sân golf ở những nơi bằng phẳng tốn kém hơn
nhiều ở những nơi dân gian gọi là, đất chó ỉa).


Từ năm 2006 Việt Nam cho phép lập các tập đoàn kinh tế
nhưng không đi kèm quy định giám sát cần thiết
cũng như điều kiện buộc phải xác lập hệ thống quản lý doanh nghiệp, minh định
rõ trách nhiệm và quyền hạn của lãnh đạo công ty.


Nhận định này đúng…một nửa. (Hãy
google xem các tập đoàn kinh tế nhà nước có hay không được minh định trách
nhiệm quyền hạn của lãnh đạo tập đoàn). Từ góc độ điều hành của chính phủ, sai
lầm về các tập đoàn này nằm ở chỗ: không có quy chế tầm soát quyền lực. Quyền
lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối. Việc ban hành các quy định giám sát hay
các điều kiện để xác lập hệ thống quản lí…chỉ là những thao tác cụ thể.


Nhìn chung, cho đến nay quy hoạch nặng tính chất áp
đặt, nóng vội, duy ý chí, thiếu thiết kế tổng thể và nhiều khi thiếu tính
chuyên nghiệp. Những yếu kém này thể hiện ở nhiều lĩnh vực. Trong phát triển đô
thị thì đó là việc quy hoạch vội vã, thiếu khoa học dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông liên tục và kéo dài, ngập úng
do mưa, đào đường, đắp đường, chắn lô cốt …
ở khắp mọi nơi.


Beo không phản đối những nhận
định về công tác quy họach hạ tầng ở Việt nam hiện nay. Giá mà dừng ở đấy thì đẹp nhưng, các tác giả dấn tí nữa, đưa
ra các dẫn chứng chứng minh thì lại trật lất và lặt vặt bởi, việc thiếu thiết
kế tổng thể trên tầm vị quốc gia, nó không nằm ở chỗ đào đường chắn lô cốt hay
ngập úng do mưa.


2. Về văn hóa



a. Văn hóa, đạo đức xã hội đang suy thoái trầm trọng.
Chưa khi nào tin tức về tệ nạn xã hội lại có mật độ dày đặc như hiện nay. Dường
như, cái xấu và cái ác đang hoành hành ngoài xã hội và tràn lên mặt báo mỗi
ngày.


b. Nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng suy thoái đạo
đức, văn hóa này là … sự kiểm soát báo chí và truyền thông
, – vũ khí mạnh nhất
để chống lại tham nhũng, bất công, giả dối, ác độc – đã làm cho công luận bị
hạn chế và vô hiệu hóa.


Tự thân điểm a và điểm b đã
tréo ngoe nhau rồi nên Beo không cần viết gì thêm.

NÓI PHẢI CỦ CẢI CŨNG NGHE (KÌ 2)

2. Về văn hóa (tiếp)


Tòan giáo sư mà đặt vấn đề về
văn hóa như Bản Ý kiến, Beo cho là tầm quá thấp. Beo mượn ý một anh bạn doanh
nhân, mạo muội viết lại phần nguyên nhân dẫn
đến hiện trạng văn hóa nước nhà như sau:


Tâm lí và nhu cầu sống gấp đang
trở nên vô cùng thịnh hành, đặc biệt với những người đang có  quyền lực cứng (hard power). Vì sao: Bất an
vào tương lai; Bất ổn về thể chế; Bất định về tư tưởng; Bất lực của người thủ
lĩnh (hay không có thủ lĩnh); Bất đồng của các giá trị văn hóa (trong giai đoạn
tích lũy tư bản đồng thời tích lũy các giá trị văn hóa thay thế dần bảng giá
trị cũ không còn phù hợp).


Tương tự như  về Văn hóa, về Giáo dục, Y tế, Khoa học công
nghệ, các tác giả không chỉ ra được chính xác nguyên nhân dẫn tới tình trạng
trì trệ hiện nay, thậm chí còn sa vào những tiểu tiết khi lí giải như chế độ
đãi ngộ, chế độ tiền lương…


6. Về quan hệ
đối ngoại


Đọc đi đọc lại, Beo thấy nó như được
tập hợp ra từ  báo chí lá cải hay từ mấy bloggers thất nghiệp trong nước
vậy.
Cái
tứ Beo viết trong entry trước này nảy ra chính là khi Beo đọc đến phần nhận
định về quan hệ đối ngoại của bản Ý kiến.


Toàn bộ
quan hệ đối ngoại của một quốc gia chỉ luẩn quẩn kể ra những sự việc vụn vặt quanh
một nước Trung Quốc với nhận định không chỉ phiến diện mà còn sai về cơ bản. Ví
dụ bản Ý kiến viết:
quan hệ ngoại thương Việt Trung gây ra bất
ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam


Nguyên nhân lớn nhất gây ra
bất ổn kinh tế vĩ mô, tiềm ẩn hay hiện hữu, nằm ở cơ cấu tài chính trong nước và
liên thông với  sự ổn định hay bất ổn
định của kinh tế toàn cầu. Tỉ trọng giao thương Việt Trung chưa đủ lớn để dẫn tới mất ổn định nền kinh tế.


Sống bên cạnh một ông hàng
xóm quá to khỏe, quá xấu tính như Trung quốc, các tác giả đưa ra tòan những
giải pháp ngoại giao căng cứng đối đầu, chỉ để thỏa mãn 
một thứ tự hào dân tộc không có thật. Về điểm này, Beo cho rằng có lẽ các
tác giả thiếu thông tin từ cấp chính phủ hơn là vì nông cạn hời hợt khi đánh
giá tình hình hay chạy theo một luồng dư luận.


***


Chính vì phân tích, đánh giá
không hết, không đúng với hiện tình đất nước về một số lĩnh vực cơ bản nhất như
Beo đã dẫn chứng, dẫn đến  các giải pháp
cho một nước Việt nam giàu mạnh và tự chủ các tác giả đưa ra đâm thành… không thể cũ
hơn được nữa, dù rất hay.


Cũ vì trong nước, người ta đã
đề ra nó như những mục tiêu để phấn đấu đạt tới từ thời cụ Nguyễn Văn Linh. (Việc
tra cứu  cực dễ nên miễn cho Beo
phần chứng minh). Đến thời điểm này rồi, các tác giả cũng không đưa ra được bất
cứ một biện pháp cụ thể nào để hiện thực hóa những điều đó, vẫn chỉ đơn thuần
lặp lại, như hô những khẩu hiệu mà ngay ở trong nước, người ta đã hô rát họng mấy chục
năm nay.


Nếu có gì cần chê thêm, đó là
phần trình bày văn bản: Trùng lặp ý tứ, trình thức lộn xộn.


Nếu có gì cần mách nước thêm:
Trong quan hệ đối ngoại, hãy quan sát kĩ đường đi nước bước của chính phủ Việt
nam trong trục ngoại giao: Nhật bản- Ấn độ- Trung quốc.


Riêng về kinh tế, Beo sẽ viết riêng sau khi đọc xong tài liệu về TÁI KINH vừa trình quốc hội.