Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014
THỊ, GÃ VÀ HÀ- kì 10
“
ai lớp du ô kê...”
***
Không chỉ Thị, mà chồng Đanh đá cũng chết lặng.
Cổ họng Thị khô khốc. Thị không còn vốn từ nào tả nổi
nỗi ê chề tràn ngập khắp châu thân.
Gã làm tiền vợ chồng Chiếu nhất.
- Xin tụi em một tỷ để làm nhà cưới cái cô Diễm Gã gọi
là vợ yêu đó chị. Gia đình em đi Vũng tàu cả hai cũng bám càng xin đi theo. Xin
tiền em mà nói em đừng mách với chồng...
Hai chân Thị nhủn ra gần như đứng không vững. Chồng
Đanh đá nhìn Thị thương xót. Vợ Chiếu nhất vẫn kể, bằng giọng không thể miệt thị
hơn:
- Chị nghĩ sao mà thằng đàn ông xin em từ cái vé máy
bay HN-SG. Đòi dẫn đi ăn chỗ nọ chỗ kia như chết thèm vậy đó. Ai lớp du ô kê, thấy tởm...
Chồng Đanh đá nhìn sang Chiếu nhất. Chiếu nhất không buồn để ý đến câu chuyện của vợ, gọn lỏn buông:
- Giẻ rách. Hạng đó em không thèm nhắc đến tên đâu chị.
Chồng Đanh đá nhìn sang Chiếu nhất. Chiếu nhất không buồn để ý đến câu chuyện của vợ, gọn lỏn buông:
- Giẻ rách. Hạng đó em không thèm nhắc đến tên đâu chị.
Cả Thị lẫn chồng Đanh đá, không ai bảo ai đều từ chối
bữa ăn vợ chồng Chiếu nhất mời. Nuốt thế nào nổi.
Thị đổ vật ra giường. Chăm chăm nhìn lên trần nhà.
Nước mắt lúc này mới chứa chan chảy. Tại
sao lại phải làm thế hả anh?
Thị vật vã không thể giải thích được. Một tỷ đồng, không
đủ mua cái túi cho vợ Chiếu nhất khoác buổi sáng.
Một tỷ đồng, làm sụp đổ nốt những bám víu tình cảm cuối
cùng Thị vẫn dùng để biện minh cho Gã.
Thị ngưng khóc, tháo cái đồng hồ đang đeo trên tay, giơ lên nhìn. Cái vật vô trị giác ấy như đang mỉa mai Thị.
Nó, đắt gấp đúng 10 lần một tỷ.
(Còn tiếp)
Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014
KO NHỚ TÊN
Đừng nói với em về nỗi
chờ mong
Khi Anh là người ra đi em mới là người ở lại
Nỗi đau của những đêm vò ngực nhớ người yêu Anh có từng trải
Nhiều như em đâu???
Làm sao Anh biết được đau đớn mấy màu
Màu tóc chẻ nguyên một đời con gái
Màu vết chân chim, vết đồi mồi khờ dại
Màu người ở lại đắng quá phải Ko Anh?
Có xa cách nhau lắm đâu...vẫn chung bầu trời xanh
Vẫn chung mặt trời, vẫn chung mặt trăng và những vì sao xa tít
Vẫn chung rất nhiều chứ Ko hề ít
... Vậy mà Anh dần quên em
Anh đừng nói với em về giọt nước mắt mềm
Anh chân cứng chinh phạt những miền đất khác
Chằng biết em ở đây rạc lòng mình ra hát
Bài hát đến câu cuối cùng cũng khắc khoải mỗi Anh thôi
Làm sao Anh biết em đau nhiều mà vẫn tàn nhẫn thế hả trời
Chẳng lẽ nào em đang yêu người độc ác
Chằng lẽ nào em đang đợi một kẻ bội bạc
Chằng lẽ nào...em ngốc quá phải Ko Anh?
Đừng nói gì khi ngửa mắt lên em Vẫn thấy trời xanh
Anh vẫn thấy bầu trời em đang thấy
Vậy mà Ko áy náy
... Nên Anh nói rất nhiều về tình yêu
Về rất nhiều điều
... Em Ko dám nói!
Em chỉ rạc lòng ra gọi
Rạc lòng ra đợi
... Bài hát nào cũng thương Anh!
Khi Anh là người ra đi em mới là người ở lại
Nỗi đau của những đêm vò ngực nhớ người yêu Anh có từng trải
Nhiều như em đâu???
Làm sao Anh biết được đau đớn mấy màu
Màu tóc chẻ nguyên một đời con gái
Màu vết chân chim, vết đồi mồi khờ dại
Màu người ở lại đắng quá phải Ko Anh?
Có xa cách nhau lắm đâu...vẫn chung bầu trời xanh
Vẫn chung mặt trời, vẫn chung mặt trăng và những vì sao xa tít
Vẫn chung rất nhiều chứ Ko hề ít
... Vậy mà Anh dần quên em
Anh đừng nói với em về giọt nước mắt mềm
Anh chân cứng chinh phạt những miền đất khác
Chằng biết em ở đây rạc lòng mình ra hát
Bài hát đến câu cuối cùng cũng khắc khoải mỗi Anh thôi
Làm sao Anh biết em đau nhiều mà vẫn tàn nhẫn thế hả trời
Chẳng lẽ nào em đang yêu người độc ác
Chằng lẽ nào em đang đợi một kẻ bội bạc
Chằng lẽ nào...em ngốc quá phải Ko Anh?
Đừng nói gì khi ngửa mắt lên em Vẫn thấy trời xanh
Anh vẫn thấy bầu trời em đang thấy
Vậy mà Ko áy náy
... Nên Anh nói rất nhiều về tình yêu
Về rất nhiều điều
... Em Ko dám nói!
Em chỉ rạc lòng ra gọi
Rạc lòng ra đợi
... Bài hát nào cũng thương Anh!
By Nồng nàn Phố
Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014
LỖI TẠI AI ?
(copy từ facebook Nhân Tuấn Trương vì trùng suy nghĩ. http://nhantuantruong.blogspot.fr/2014/05/loi-tai-ai.html )
Việt Nam mất nước,
mất lãnh thổ vùng biên giới, mất đảo mất biển ở Biển Đông, một mặt là do tham vọng
bành trướng của Trung Quốc, nhưng mặt khác, quan trọng hơn, là do thái độ nô
tài của trí thức Việt Nam.
Thái độ này đặc biệt được phóng đại lên, được truyền tải hết mức trên những cơ quan truyền thông VN, cá nhân cũng như thuộc cơ quan trong nước và nước ngoài, từ hơn thập niên nay. Dưới hiệu quả của nó, người dân Việt Nam được ru ngủ với những bài viết, những trang phóng sự, những bài phỏng vấn… mà nội dung chỉ là những thứ cóp nhặt của người khác, còn không là bóp méo dữ kiện lịch sử, diển giải sai lầm tài liệu pháp lý. Nó chỉ có giá trị của những liều thuốc an thần.
Tham vọng bành trướng của Trung Quốc, người Việt qua các thế hệ đã từng trãi, đã có kinh nghiệm, do đó luôn có các phương pháp hữu hiệu để phòng ngừa. Tham vọng chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh của Trung Quốc không phải là một âm mưu, nó đã là một thực tế từ lâu.
Vùng Trường Sa, từ « không có tranh chấp » trở thành « có tranh chấp ». Vùng Hoàng Sa, từ « vùng có tranh chấp » trở thành vùng thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đây là một quá trình tiệm tiến, thành hình sau hàng chục năm. Trong nước hình như không ai biết đến sự đổi thay này. Quả nhiên, đó là « công lao » của học giả nô tài, là do hiệu quả của những liều thuốc an thần.
Bây giờ, khi mà phía Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển của VN để khai thác, ta mới thấy sự lúng túng của phía VN, từ lãnh đạo cấp cao nhà nước cho tới tầng lớp trí thức nô tài. Riêng người dân thì, không chừng, vẫn còn đang gật gờ dưới hiệu quả của những thang thuốc ngủ.
Không mấy ai thấy và hiểu được những sự thật éo le được che đậy phía dưới tấm bình phong 4 tốt và 16 chữ vàng. Khi có người nhắc đến bất kỳ điều nào có thể đe dọa đến vẹn toàn lãnh thổ của VN, người đó nhất định là Tàu, là phản động, là phản quốc, là tay sai đế quốc Mỹ...
Lẽ thường, lãnh đạo nghe học giả để có cái nhìn chiến lược. Rốt cục cả nước chỉ toàn nghe những dối gian hay những « lời chim chóc » ! Cái nhìn chiến lược cũng bị méo mó.
Những lời thật đã nói lên. Dĩ nhiên, do « thật », thì nếu không mất lòng thì cũng rất khó nghe. Rốt cục có mấy ai nghe ?
Bây giờ mất nước đã là sự thật. Nếu xét nguyên nhân, ai là thủ phạm, thì lãnh đạo CSVN là những người trọng tội hàng đầu. Tiếp theo là tầng lớp trí thức nô tài, những người sẵn sàng hóa trắng thành đen, biến không thành có để bảo vệ chủ. Sau cùng, thành phần đồng lõa, là các cơ quan truyền thông, các trang web « độc lập » có công đưa những liều thuốc an thần đó đến từng nhà, từng người, làm như 700 tờ báo và hàng trăm đài radio, truyền hình trong nước làm việc chưa đủ hiệu quả.
Việt Nam cô đơn hơn bao giờ hết. Tranh chấp Hoàng Sa không hề được ghi trong DOC (Tuyên bố ứng xử giữa TQ và các nước ASEAN). Các nước ASEAN đứng ngoài, không có ý kiến về vụ này là hợp lý. Còn Hoa Kỳ, từ thập niên 90 đã có tuyên bố « không có ý kiến » về tranh chấp chủ quyền các đảo ở biển Đông, chỉ yêu cầu tôn trọng quyền tự do qua lại và các bên tôn trọng Luật Biển 1982. Việc TQ đặt giàn khoan 981 có vi phạm Luật Biển 1982 không ? Theo tôi là không. Mỹ cũng không thể tuyên bố đi quá những gì đã cam kết trong quá khứ. Còn Nga, họ chỉ mong cho hai bên Việt-Trung sớm đánh nhau để bán thêm vũ khí.
Vì vậy, mất nước trước hết do mình. Sau đó mới là giặc.
Thái độ này đặc biệt được phóng đại lên, được truyền tải hết mức trên những cơ quan truyền thông VN, cá nhân cũng như thuộc cơ quan trong nước và nước ngoài, từ hơn thập niên nay. Dưới hiệu quả của nó, người dân Việt Nam được ru ngủ với những bài viết, những trang phóng sự, những bài phỏng vấn… mà nội dung chỉ là những thứ cóp nhặt của người khác, còn không là bóp méo dữ kiện lịch sử, diển giải sai lầm tài liệu pháp lý. Nó chỉ có giá trị của những liều thuốc an thần.
Tham vọng bành trướng của Trung Quốc, người Việt qua các thế hệ đã từng trãi, đã có kinh nghiệm, do đó luôn có các phương pháp hữu hiệu để phòng ngừa. Tham vọng chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh của Trung Quốc không phải là một âm mưu, nó đã là một thực tế từ lâu.
Vùng Trường Sa, từ « không có tranh chấp » trở thành « có tranh chấp ». Vùng Hoàng Sa, từ « vùng có tranh chấp » trở thành vùng thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đây là một quá trình tiệm tiến, thành hình sau hàng chục năm. Trong nước hình như không ai biết đến sự đổi thay này. Quả nhiên, đó là « công lao » của học giả nô tài, là do hiệu quả của những liều thuốc an thần.
Bây giờ, khi mà phía Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển của VN để khai thác, ta mới thấy sự lúng túng của phía VN, từ lãnh đạo cấp cao nhà nước cho tới tầng lớp trí thức nô tài. Riêng người dân thì, không chừng, vẫn còn đang gật gờ dưới hiệu quả của những thang thuốc ngủ.
Không mấy ai thấy và hiểu được những sự thật éo le được che đậy phía dưới tấm bình phong 4 tốt và 16 chữ vàng. Khi có người nhắc đến bất kỳ điều nào có thể đe dọa đến vẹn toàn lãnh thổ của VN, người đó nhất định là Tàu, là phản động, là phản quốc, là tay sai đế quốc Mỹ...
Lẽ thường, lãnh đạo nghe học giả để có cái nhìn chiến lược. Rốt cục cả nước chỉ toàn nghe những dối gian hay những « lời chim chóc » ! Cái nhìn chiến lược cũng bị méo mó.
Những lời thật đã nói lên. Dĩ nhiên, do « thật », thì nếu không mất lòng thì cũng rất khó nghe. Rốt cục có mấy ai nghe ?
Bây giờ mất nước đã là sự thật. Nếu xét nguyên nhân, ai là thủ phạm, thì lãnh đạo CSVN là những người trọng tội hàng đầu. Tiếp theo là tầng lớp trí thức nô tài, những người sẵn sàng hóa trắng thành đen, biến không thành có để bảo vệ chủ. Sau cùng, thành phần đồng lõa, là các cơ quan truyền thông, các trang web « độc lập » có công đưa những liều thuốc an thần đó đến từng nhà, từng người, làm như 700 tờ báo và hàng trăm đài radio, truyền hình trong nước làm việc chưa đủ hiệu quả.
Việt Nam cô đơn hơn bao giờ hết. Tranh chấp Hoàng Sa không hề được ghi trong DOC (Tuyên bố ứng xử giữa TQ và các nước ASEAN). Các nước ASEAN đứng ngoài, không có ý kiến về vụ này là hợp lý. Còn Hoa Kỳ, từ thập niên 90 đã có tuyên bố « không có ý kiến » về tranh chấp chủ quyền các đảo ở biển Đông, chỉ yêu cầu tôn trọng quyền tự do qua lại và các bên tôn trọng Luật Biển 1982. Việc TQ đặt giàn khoan 981 có vi phạm Luật Biển 1982 không ? Theo tôi là không. Mỹ cũng không thể tuyên bố đi quá những gì đã cam kết trong quá khứ. Còn Nga, họ chỉ mong cho hai bên Việt-Trung sớm đánh nhau để bán thêm vũ khí.
Vì vậy, mất nước trước hết do mình. Sau đó mới là giặc.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)