Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

BA MƯƠI CHƯA PHẢI LÀ TẾT

Vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn tưởng như đã tới hồi kết. Nhưng những thông tin tường thuật phiên toà xét xử vụ giết người của Lý Nguyễn Chung khiến cho tôi có cảm giác hình như vụ án chưa thể dừng lại. Đúng như ông bà ta thường nói "30 chưa phải là tết".
1.
Trong phiên toà này, dư luận rất quan tâm tới nhân chứng mới xuất hiên là bà Nguyễn Thị Thu Hà. Thực ra lời khai của bà Hà trước Toà chưa đáng tin cậy bởi không có bằng chứng cụ thể nào nhưng có nhiều điều rất đáng suy nghĩ. Thứ nhất, tại sao bà Hà lại tự nguyện đứng ra làm chứng lật lại một vụ án giết người khi mà hung thủ đã đứng ra nhận tội? Động cơ nào, lương tâm, trách nhiệm công dân hay thù hằn cá nhân? Thứ hai, nếu bà Hà khai đúng thì được gì, phải chăng chỉ được tiếng thơm "gió thoảng mây bay", đổi lại là phải đối mặt với nguy hiểm bởi sự hận thù của các thế lực muốn vụ án đi theo sắp đặt của họ. Còn như khai sai thì hậu quả cũng rất khó lường, không những bị cả xã hội chê cười, bưới móc, xỉa sói mà còn có thể phải lãnh sự trừng phạt của pháp luật. Xét cho cùng, đằng nào bà Hà cũng thiệt nhưng bà vẫn làm. Lý giải ra sao về vấn đề này?
2.
Gác qua chuyện bà Hà, không có chuyện này thì vụ án còn lắm chuyện phải bàn.
Tại toà, bị cáo Chung tỏ ra rất bình tĩnh, tự tin khai mình là hung thủ duy nhất. Chung khai mang sẵn con dao trong người, thấy nạn nhân có tiền nên nảy sinh ý định giết người để cướp. Chung không chỉ đâm nạn nhân mười mấy nhát mà còn đuổi theo túm tóc nạn nhân rồi đập đầu xuống đất, nhúng đầu nạn nhân xuống nước, lấy gối đè lên mặt... Lúc gây án Chung mới 14 tuổi, một thằng bé nhà quê chừng ấy tuổi có đủ lực, đủ ý thức, đủ ý chí để thực hiện hành vi giết người một cách chuyên nghiệp như vậy?
Câu hỏi cần đặt ra là lúc đó Chung cao bao nhiêu, nặng bao nhiêu, nạn nhân cũng cao bao nhiêu, nặng bao nhiêu mà Chung có thể giết nạn nhân quá dễ dàng? Nên nhớ những người buôn bán ở nông thôn thường là "thứ dữ", hiền lành khó làm nghề này. Dù thế nào đi nữa, nạn nhân cũng có phản kháng, không chịu bó tay để cho một thằng bé mới 14 tuổi tha hồ đâm chém, đánh đập, nhất là lúc phải đối mặt với cái sống cái chết.
Đánh giá qua khía cạnh tâm lý cũng rất khó hiểu việc Chung ra tự thú khi vụ án đã kết thúc sau 10 năm, hung thủ đã bị bắt và bị kết án, không còn bị áp lực bức bách bởi sự truy đuổi của cơ quan pháp luật. Có đúng là do lương tâm cắn rứt? Rất khó tin. Theo những gì thể hiện tại toà, mới 14 tuổi mà Chung đã rất hung dữ, sau vụ giết người Chung còn hăm doạ giết người thân vì không cho mượn tiền. Môt con người vốn có bản năng như vậy thì câu chuyện cắn rứt lương tâm cũng có thể có nhưng thật sự là khó như "đi lên giời".
Người đời thường nói "hổ dữ không ăn thịt con". Tuy nhiên trong vụ án này lại nảy ra cái chuyện người thân của Chung chỉ chăm chăm quy tội cho Chung. Tai sao thế nhỉ? Vì cái gì mà họ lại làm trái với luân thường đạo lý?

3.
Tất cả những điều nêu trên cũng là nhưng vấn đề cần được giải quyết bằng khám nghiệm hiện trường, thực nghiêm lại hành vi giết người của Chung, bằng so sánh khám nghiệm tử thi, thu hồi vật chứng (nhất là con dao), đối chiếu lại hồ sơ của bản án cũ và cả việc lý giải về tâm sinh lý. Đáng tiếc là cho tới giờ những điều này chưa đươc đặt ra mổ xẻ trước toà, nếu có thì cũng rất lớt phớt, mờ mịt.
LÊ THANH TÂM

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

CƠ KHỔ CHO Á THÁNH

Thấy cần-lao-mạng-ảo lại sôi nổi chém-zó về vụ có ông nào đó biên lá thư tâm huyết dài tận 5 trang lên chị Ngân đề nghị đổi tên sân bay Long Thành thành Võ Nguyên Giáp và đã được anh Thanh cục hàng không phúc đáp.
Việc lấy tên lãnh tụ, danh nhân, nhân vật lịch sử,... đặt tên cho các đơn vị hành chính lẫn nhà, điện, đường, trường, trạm cũng chẳng có gì mới mẻ trên thế giới và An-nam. Có những cái tên vẫn đang trường tồn, nhưng cũng có những cái tên đã bị xóa xổ (như vài địa danh ở thể chế liên bang xô viết cũ chẳng hạn).
Tướng Giáp được hầu hết cần-lao An-nam xem như á-thánh, nhiều địa phương đã lấy tên ông để đặt cho các đối tượng nêu trên. Thế nên có kiến nghị đặt tên ông cho sân bay Long Thành nghe cũng khả dĩ.
Thế nhưng vẫn có nhiều thông tin nghi ngờ về công trạng của ông Giáp, và các phím-sĩ-mạng-ảo đã mất không ít phím lực để tranh cãi về vụ này gần chục năm trở lại đây. Dĩ nhiên cuộc tranh cãi chẳng đi đến hồi kết vì các bên đều thiếu tư liệu để minh chứng hoặc có tư liệu nhưng chủ quan từ một phía.
Gần đây nhất có bài viết của ông Bùi Anh Trinh nào đó có trích dẫn mấy tài liệu mật của tình báo Pháp do Berna Fall sưu tầm và tài liệu từ hồ sơ của quân đội Trung Quốc do Quang Zhai sưu tầm cho rằng ông Vi Quốc Thanh mới là người vạch ra chiến lược trong trận ĐBP cuối cùng sau khi ông Giáp thất bại nặng nề trước đó. Tác giả này cũng trích dẫn những tư liệu về ông Hoàng Tùng từ tác phẩm Đèn Cù và cho rằng ông Hoàng Tùng không xem ông Giáp là tướng (ông Tùng chính là người được BTC đảng CSVN cử làm phái viên lên để làm việc với ông Giáp và ông Vi Quốc Thanh sau thất bại của cuộc chiến trước ngày 6/4). Dĩ nhiên ông này cũng chỉ tổng hợp từ các tài liệu nêu trên chứ cũng chẳng có chứng cứ để thuyết phục luận điểm đưa ra.
Thời gian gần đây có vẻ mối quan hệ với bạn vàng không được tốt cho lắm. Ngoài bể Đông thì thi thoảng cần-lao 2 bên va chạm nhau, truyền thông chính thống thì xé rào (hoặc được bật đèn) gọi thẳng tên quân xâm lược, đặc biệt là chuyến công du xứ Cờ-hoa của cụ tổng. Nghe có vẻ cơm không lành, canh không ngọt.
Đặc tính của cả ta lẫn tàu là "yêu nhau yêu cả đường đi/ ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng). Không may (là tôi giả sử) hai bên lại ghét nhau, và trong thời buổi thông tin được chia sẻ trên toàn thế giới, với mức lan tỏa và cập nhật bằng giây, mà bạn vàng lại tông tốc bạch hóa tất cả các thông tin bí mật thì lại khổ. Cũng không may những nghi ngờ về thần tượng của cần-lao là đúng thì tôi chưa tưởng tượng lúc đó xứ này sẽ ra sao? Gớm, mỗi 2 ku con là nghi phạm giết có 6 mạng người mà còn lên đồng như cháy nhà sạt mả, nói gì đến tượng đài dân tộc.
Thế nên các quan ạ, thời gian vàng bạc các quan nên dành cho việc quản lý, phát triển đất nước, đừng sợ truyền thông mà cứ phải mất thời gian xoa dịu dư luận, như vụ anh Bá í, chỉ từ nhàm đến nhảm mà thôi.
Còn các ông bà cần-lao thối-tai-khai-bẹn ạ, các ông bà bớt chém-zó đi cho các quan nhờ, để họ còn đầu óc làm việc có ích. Với đặc tính lá mặt lá trái của các ông bà, nếu thần tượng trong lòng các ông bà mà sụp đổ thì các ông bà lại chổng mông vào mặt thần tượng ngay cho mà xem. Chứ còn lâu các ông bà mới có lòng nhân từ để tha thứ cho lịch sử.
Thế nên, đặt tên mấy cái đường, mấy cái trường thì được, vì thay tên đổi họ những cái đó đơn giản. Chứ đừng lên đồng mà đặt cho cái sân bay tầm quốc tế này. Đến Lenigrad, Staligrad còn bị xóa xổ nữa là.
Cơ khổ!

By: BAU X TRINH

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2015

GIẤC MƠ MỸ-13

Trong loạt bài cực hay về nước Mỹ, Phó Đức Tùng thoáng đến và kịp nhận ra “Boston giấu những người nghèo, người thường trong những lâu đài. Ở đâu ta cũng ít thấy sự chênh lệch, phân biệt một cách thô thiển đẳng cấp. Ở đâu, sự bình đẳng cũng tương đối, đủ giữ thể diện, nhân phẩm cho tất cả mọi người cũng được đảm bảo”.
Lịch sử phát triển đô thị Boston, như tất cả các thành phố khác, bắt đầu từ khu trung tâm với tứ giác trọng tâm rất đặc trưng châu Âu: Nhà thờ, Tòa thị chính, Thư viện và Chợ. Thuở ban đầu, người giàu có chiếm lĩnh toàn bộ những con đường bao quanh tứ giác trọng tâm này, sau loang dần ra, nhường những kiến trúc yêu kiều cho tầng lớp trung lưu  hay nghèo hơn.
Chỉ vài miles cách Quảng trường Copley, nơi gần đây nổi tiếng bởi vụ bombing marathon, theo những đường cây đan thành vòm gotic xanh rợp, là tới nơi cư ngụ của tầng lớp thượng lưu Boston hiện nay, những dòng dõi quý tộc lâu đời nhất nước Mỹ. 
 
 
Không có bất cứ sự lặp lại nào, đi miên man cả ngày chưa ra khỏi thiên đường có thật nơi hạ giới. Trong không gian lặng lẽ, ngập ngừng thoang thoảng tiếng piano của trẻ mới học đàn. Đâu đó trên vạt cỏ nắng trước sân, cặp vợ chồng già tựa lưng nhau  ngồi đọc sách. Beo cất tiếng chào. Cả hai cùng gỡ kính, bỏ sách xuống đáp lời. Người đàn bà đứng dậy hái cho chùm mận chín đỏ. Bà bảo ngọt lắm. Tiếc vì đẹp, không ăn. Ông cười, hái thêm cho một quả lẻ.
Mỗi ngôi nhà, chứa trong nó một câu chuyện như cổ tích về thành phố này, về những thăng trầm biến trải của những thế hệ đàn ông. Duy những người đàn bà, là vẫn thế, xưa giờ vẫn thế. Vẫn những công việc muôn thuở trong nhà, đọc sách, đan len, tỉ mẩn cầu kì gấp  quần áo cho cả nhà. Tối tối, tam đại đồng đường quanh bàn ăn. Cái cảm giác gia đình máu thịt thật sự đến khi  vòng tròn nắm chặt tay nhau, nhắm mắt đồng thanh cầu nguyện, Cảm ơn Chúa đã cho gia đình chúng con no đủ và hạnh phúc. Bữa nào cũng có món khoai tây nghiền ngầy ngậy béo.


(còn tiếp)

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Boston: Trong lâu đài và giữa đồng hoa, nghĩ về tự do (kì 1)

(Bài Phó Đức Tùng copy từ Soi, ảnh Beo thị)
Boston là một trong những đô thị cổ nhất nước Mỹ, từng thịnh vượng trước Philadelphia, rồi phải nhường bước cho Philadelphia, nhưng nay thì có vẻ ổn hơn.
Nếu Philadelphia là một đô thị của sự bình đẳng, của dân lao động, thì Boston lại đặc trưng của một đô thị được dẫn dắt bởi tầng lớp tinh hoa, với những danh gia vọng tộc lâu đời, nổi tiếng. Chỉ nhìn vào bản đồ khu trung tâm Boston, ta có thể nhận ra ngay sự khác biệt. Nếu như Philadelphia có dạng bàn cờ trải khắp, thì trung tâm Boston có hình như một trái tim, rất hữu cơ, với các ngăn, các mạch chủ, mạch nhánh rõ ràng. Hiện nay, Boston là một trong những thành phố có mật độ cao nhất, đắt đỏ nhất, nhưng cũng được coi là thuộc loại tiềm lực nhất và đáng sống nhất, hấp dẫn nhất ở nước Mỹ.
Ngày đầu tiên tới Boston, tôi tham quan nhạc viện, vì có cậu em họ học sáng tác ở đây sẽ trình bày các tác phẩm giao hưởng tốt nghiệp của cậu.
Berklee danh giá
Khu vực nhạc viện nằm ở phía Tây của trung tâm. Vừa lên khỏi bến tầu điện ngầm, trước mắt đã mở ra một cảnh quan đô thị khác hẳn Philadelphia. Những dãy phố sang trọng kiểu như Paris của Haussmann, với nhà cửa đồng đều ở mức 4-5 tầng. Kiến trúc tân cổ điển, không quá rườm rà, nhưng mạch lạc, chắc chắn, và vẫn còn một số chi tiết trang trí riềm mái, cửa sổ, ban công, cửa chính nổi bật sự xa hoa. Tầng trệt có nhiều cửa hàng cửa hiệu, không liên tục như một cái chợ mà xen lẫn nhà ở, nhưng đủ mật độ, độ đa dạng để hấp dẫn. Ngân Hàng Mỹ (Bank of America) cũng nằm trong một tòa nhà cổ kính, xây gạch đỏ để trần. Một góc phố thấy đề biển siêu thị, nằm ở tầng trệt một tòa nhà cổ, trông không khác gì một tiệm tạp hóa nhỏ trong phố, nhưng bước qua cửa thì mở rộng ra thành một siêu thị rộng mênh mông. Tòa nhà Apple cũng bốn tầng, tối giản, mặt kính trong suốt, như một cái cầu nhiều tầng nối giữa hai ngôi nhà cổ hai bên; không gian bên trong hòa lẫn với bên ngoài, tấp nập người như là một mảng vỉa hè mở rộng.
 Nội thất tòa nhà Apple

Đi mấy bước thấy mở ra một quảng trường rộng, với tòa nhà thờ mái tròn romanic bề thế ngự ở chính giữa. Phố xá có đường thẳng đường chéo, đi vài bước lại nhìn xuyên được qua những ngõ hẻm vào những sân rộng, yên tĩnh, ngập tràn ánh nắng. Dạo một đoạn nữa là ra tới mặt nước, để tự nhiên, lau sậy mùa đông vàng rực, còn chưa ra lại màu xanh. Dõi mắt ra xa hơn, là một vòm cầu thấp, xây đá tảng chắc nịch mà thơ mộng như La Mã cổ. Một góc phố khác, quán nhậu bày bày ghế kín vỉa hè, khách đông nghịt, cười nói rộn ràng…Nhìn chung, có cảm nhận ta rơi vào một đô thị rất chau chuốt, giàu có, ổn định, như là ở Zuerich, Bern hay Muenchen. Cấu trúc đô thị chặt chẽ, hữu cơ như một bức tranh Cezanne, như bàn tay nắm chặt, không có những lỗ trống phải vá víu, cũng không có chỗ cho nhưng công trình đương đại quá khổ, nhảy bật ra khỏi bối cảnh như ở nhiều đô thị xộc xệch khác. Người đi lại trên phố không quá đông, nhưng đủ độ sầm uất, và dáng đi sinh động, nhanh nhẹn chứ không phờ phạc, dặt dẹo như ở những khu ngoại vi Philadelphia. Và đặc biệt rất ít người béo phì.
Nói chung, từ nhà cửa, hàng hiệu, cho tới xe cộ, con người, đều cho ta cảm giác như rơi vào giới thượng lưu, toàn người giàu có, thanh lịch. Đến đây, ta có cảm giác đầy đủ, và chỉ muốn ngồi xuống một chỗ, nghỉ ngơi sưởi nắng, ngắm cảnh phố phường, bởi vì không gian xung quanh, nhịp điệu xung quanh cung cấp đủ độ đa dạng, độ trù phú cho một nhu cầu tinh thần đói khát. Trong khi đó, ở Philadelphia, chân ta không muốn dừng, mắt ta không muốn dừng, vì những thứ ta thấy ở xung quanh một chỗ vẫn chưa đủ đô, cần phải đi rạc cẳng để có thể lượm lặt đủ những ấn tượng, những trải nghiệm cho ta đỡ cơn khát. Còn nếu chân ta lười, ta sẽ ngồi một chỗ, buồn chán và trở nên béo phì.
Nhà hát Boston nổi tiếng thế giới, nằm một bên quảng trường. Nhưng nếu không để ý, chưa chắc đã nhận ra là nhà hát. Kiến trúc nhà hát nhỏ bé, giản dị. Trước mặt nhà hát chẳng có cột trụ hoành tráng, mà chỉ là một mái hiên mỏng thấp che mưa nắng cho người xếp hàng mua vé. Đi vào sát tận nơi mới thấy dán giấy chương trình biểu diễn ở trước cửa. Có cảm giác đây là một câu lạc bộ bi-da ấm cúng của một cụm dân cư hơn là một nhà hát tầm cỡ thế giới.
Quảng trường trung tâm Boston

Tương tự, nhạc viện Boston và đại học nhạc Berklee – những cái tên danh giá hàng đầu thế giới về âm nhạc – cũng nằm trong những tòa nhà khiêm nhường như tất cả các nhà khác trong dãy phố, chỉ khác mỗi một cái băng rôn hẹp chạy dọc ghi tên phía trước. Ngay cạnh tòa nhà chính nhạc viện là những tòa nhà dân cư khác, sang trọng và cổ kính tương đương. Trước cửa một số nhà có treo một lá cờ xanh của nhạc viện, thì đó là ký túc xá sinh viên của nhạc viện, để phân biệt với những nhà dân bình thường.Thế mới biết, nếu ở Philadelphia, âm nhạc, nghệ thuật được tôn sùng tuyệt đối, đặt vào thánh đường Acropolis, trong những lâu đài hoành tráng, khiến dân thường phải khiếp hãi tôn thờ thì ở Boston, âm nhạc, nghệ thuật đỉnh cao lại ăn vào từng tế bào, từng thớ thịt đô thị, trở thành sinh hoạt câu lạc bộ hàng ngày, bình dị như những sự hiển nhiên.
Thế người nghèo, người thường thì ở đâu? 
Tất nhiên cũng trong những tòa nhà sang trọng, lộng lẫy đó, như những sinh viện nhạc viện Boston. Nếu như Philadelphia ép danh nhân cũng phải ở bàn cờ, ăn cheesesteak thì Boston giấu những người nghèo, người thường trong những lâu đài. Ở đâu ta cũng ít thấy sự chênh lệch, phân biệt một cách thô thiển đẳng cấp. Ở đâu, sự bình đẳng cũng tương đối, đủ giữ thể diện, nhân phẩm cho tất cả mọi người cũng được đảm bảo. Nhưng ở Philadelphia, thước đo là của bình dân, còn ở Boston, thước đo là của quý tộc.
Nhà thờ đầu tiên trên thế giới treo cờ đồng tính
Câu hỏi đặt ra: Boston sang trọng như thế, đắt đỏ như thế, liệu người nghèo có sống được không? Hãy xem cậu em họ tôi, một sinh viên Việt Nam, đến từ gia đình bình thường của một nước nghèo loại nhất thế giới, phải đóng một phần tiền học, tự túc tiền sống, tiền nhà, mà vẫn sống được, và chẳng muốn về, thì hiểu rằng người nghèo cũng có thể sống. Nhưng họ sống thế nào? 
Bước qua cửa căn nhà 75 Westlane, một ngôi nhà phố bề thế, hoành tráng và cổ kính như tất cả những ngôi nhà quý phái khái trong dãy phố, tôi leo lên thang tới tầng 3, nơi cậu em thuê phòng trọ. Bước qua cửa vào tầng 3, quang cảnh thay đổi hẳn. Từ không gian cầu thang cổ điển, cao vút, tương đối rộng rãi, ta vào một hành lang nhỏ xíu, ngoắt ngoéo. Cậu em ở trong một căn phòng, bé hơn tất cả những căn phòng cho công nhân và sinh viên thuê ở Việt Nam mà tôi từng thấy, chắc chỉ khoảng 5-6m2. Cậu thanh niên to lớn, ngồi thu lu giữa đống vali, chăn chiếu, quần áo, sách vở ngổn ngang, hôi hám, nhưng cũng ấm cúng, như một cái ổ chuột của người vô gia cư góc phố, chỉ thiếu con chó và cái bát xin tiền. Tầng này có 5-6 căn phòng, cho sinh viên các nước thuê, chủ yếu sinh viên âm nhạc. Toilet nhà tắm chung cả tầng, cũng nhỏ hẹp như hành lang. Bếp ăn chung ở cuối hành lang, xộc xệch lộn xộn như một góc kho, có vẻ chẳng mấy ai dùng. Cậu em mượn cho tôi phòng bên cạnh của một cậu sinh viên Hong Kong đang về nghỉ phép, phòng vẫn mở cửa, vào ở được. Phòng này to gấp đôi phòng cậu em, có cử sổ lớn hơn, thoáng hơn hẳn. Tôi hỏi giá thuê phòng, nó bảo phòng nó 820 USD một tháng, còn phòng này hơn 900. Tôi bảo chênh nhau có một ít, sao không thuê phòng to mà ở. Nó tròn mắt ngạc nhiên: ở thế đủ rồi mà, sao phải rộng hơn?
Sáng hôm sau, bà mẹ ở Việt Nam sang hì hục nấu cho cậu con trai đủ thứ món, từ cơm, gà rán, trứng rán, rau xào, thịt bò bít tết v.v. để cậu lấy sức cho buổi biểu diễn quyết định của cả 4 năm học. Cu cậu ngồi vào bàn, chỉ nhúng đũa mỗi thứ một miếng, rồi ngồi thừ ra, vì bao nhiêu năm chỉ ăn sáng ngũ cốc đạm bạc, không thể nuốt được từng ấy thứ vào buổi sáng.
Một lát, cậu vào thay đồ để đến trường, sơ mi đen, complet đen, giày da bóng lộn, dáng cao ráo thẳng thớm, tay cầm đũa chỉ huy, nom bảnh bao lộng lẫy như một quý tộc thực thụ.
(Còn tiếp)