Thứ Tư, 12 tháng 8, 2009

Copy cua Thien Ca

Kỷ Vật Cho Em


Sáng tác: Phạm Duy
Thơ: Linh Phương

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,
Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,
Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng.

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô lên đầu vội vã.. Em ơi!

Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đen
Em sang sông anh cho làm kỷ niệm
Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân.
Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân,
Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về nhìn nhau xa lạ
Anhh trở về dang dở đời em
Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen
Cố quên đi một lần trăn trối... Em ơi!
Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về


..............................


Kỷ vật cho em được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ "Để trả lời một câu hỏi" của Linh Phương. Bài hát ra đời vào năm 1970, trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam đang leo thang và trở thành một trong những bài hát nổi tiếng nhất tại miền Nam thời đó.


Bài thơ gốc
Người phổ nhạc bài này là nhạc sĩ Phạm Duy, tuy nhiên về nguồn gốc bài thơ được phổ, suốt thời gian dài từ khi ra đời là 1 nghi vấn.
Đầu tiên là vấn đề bản quyền. Trong các bản in ban đầu, Phạm Duy chỉ ghi tên tác giả bài thơ là "Vô danh", khiến cho dư luận thắc mắc, báo chí đặt câu hỏi, có báo còn đưa tin Linh Phương sẽ kiện Phạm Duy ra tòa. Sau một thời gian ông Phạm Duy mới gặp Linh Phương để trả tiền tác quyền. Từ đó những bản in của Phạm Duy mới ghi tên tác giả phần lời là Linh Phương.
Nhưng Linh Phương là ai thì người ta chỉ đoán là 1 anh lính nào đó, còn sống hoặc đã mất, không những thế còn có nhiều người tự nhận là Linh Phương.


Có ý kiến cho rằng bài thơ gốc là bài "Kỷ vật" của chuẩn úy Nguyễn Đức Nghị, bút danh Chuẩn Ngụy xuất thân từ khóa 26 sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, người này hy sinh vào năm 1969.
Không chỉ là nghi vấn về tác giả, người ta còn đưa ra 2 văn bản được cho là "bài thơ gốc", hai văn bản này khác nhau nhiều nhưng đều có phần mở đầu là:
Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời mai mốt anh về
Tuy nhiên, về văn bản, bài "Kỷ vật" của Chuẩn Nghị thì làm bằng thể thơ tự do còn "Để trả lời một câu hỏi" của Linh Phương làm bằng thể thơ thất ngôn. Nội dung cả hai bài cùng nói về sự mất mát của chiến tranh và nhiều hình tượng như trong bài "Kỷ Vật Cho em" đã được phổ nhạc, nên khó trong việc xác định danh tính tác giả.
Tuy nhiên, cũng do những ý nghĩa đó mà bài hát đã bị chính quyền Sài Gòn cấm đoán, vì nó làm "băng hoại hàng ngũ quân đội". Đã làm "nản lòng chiến sĩ", từ đó được xếp vào loại "nhạc phản chiến". Sau đó Phạm Duy với ý muốn phổ biến nhạc phẩm đã chấp nhận sửa lời thành một bài hát lạc quan hơn, trong đó không còn những hình ảnh "chiếc hòm", "viên đạn", "khăn tang", "cụt chân",... mà đổi lại thành "vòng hoa", "khăn tay", "hoan ca". Tuy nhiên phần lời này chỉ phổ biến cho đến khi miền Nam sụp đổ. Sau đó, trong các băng nhạc người ta chỉ hát phần lời gốc.


Lời bài hát (sau khi sửa)
Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime
Hay Đức Cơ- Đồng Xoài- Bình Giã
Anh trở về, anh trở về hàng cây nghiêng ngã
Anh trở về có khi là một chiếc vòng hoa
Anh trở về bằng khúc hoan ca
Trên trực thăng vang trời thanh vắng
Em hòi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho từng phủ kín đời anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chiếc khăn tay ngăn dòng lệ ứa...em ơi...
...
Bài thơ "Để trả lời một câu hỏi" của Linh Phương

Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời mai mốt anh về
Không bằng chiến thắng trận Pleime
Hay Đức Cơ- Đồng Xoài- Bình Giả
Anh trở về hàng cây nghiêng ngã
Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng
Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt
...

Bài thơ "Kỷ vật" của Chuẩn Nghị

Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về không bằng Mũ Đỏ Áo Hoa
Anh trở về không bằng huy chương chiến thắng
Anh trở về trong chiều hoang chiếu nắng
Trong hòm gỗ hoặc trên chiếc băng ca
Anh trở về nằm giữa vòng hoa
Những vòng hoa tang chan hòa nước mắt
Anh gửi về cho em vài kỷ vật
Đây chiếc nón sắt xuyên mấy lỗ đạn thù
Nó đã từng che nắng che mưa
Đã từng hứng cho anh giọt nước
Chiều dừng quân nơi địa đầu lạnh buốt
Nấu vội vàng trong đó nắm cơm khô...


 

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2009

TGM Hà nội Ngô Quang Kiệt từ chức

Trong hai tuần, một đoàn 31 Giám mục  VN đã sang Vatican . Ngay sau khi POP đọc huấn từ, TGM Hà Nội Ngô Quang Kiệt đã nộp đơn từ chức, lý do sức khỏe yếu. Trong một năm chờ POP chuẩn y, ông Kiệt hình như đã lui về ở ẩn tại gíao xứ Thái Bình.


Nghe nói khi POP đọc xong, không chỉ ông Kiệt sốc mà nhiều cha VN cũng buồn thiu. Vậy POP đã nói gì


Thư Chung của Hội đồng giám mục VN công bố năm 1980 nhấn mạnh về “ Giáo hội của Chúa Kitô giữa lòng dân tộc”.Khi đóng góp phần đặc thù của mình là loan báo tin mừng của Chúa Kitô- Giáo hội góp phần vào sự phát triển con người về mặt nhân bản và tinh thần, nhưng cũng góp phần vào sự phát triển đất nước. Sự tham gia của Giáo hội vào tiến trình này là nghĩa vụ và là một đóng góp quan trọng nhất là trong lúc VN đang dần dần cởi mở với cộng đồng quốc tế.


Cũng như tôi, anh em biết rằng một sự cộng tác lành mạnh giữa Giáo hội và cộng đồng chính trị là điều có thể. Về vấn đề này, giáo hội mời gọi mọi phần tử của mình hãy chân thành dấn thân xây dựng một xã hội công chính, liên đới và công bằng. Giáo hội không hề muốn thay thế các vị hữu trách chính quyền, nhưng chỉ mong muốn có thể tham gia chính đáng vào đời sống quốc gia, trong tinh thần đối thoại và cộng tác tôn trọng, để phục vụ toàn dân. Khi tích cực tham dự vào chỗ đứng của mình và theo ơn gọi đặc thù, Giáo hội không bao giờ có thể chuẩn chước cho mình việc thực thi bác ái trong tư cách là một hoạt động có tổ chức của các tín hữu. Ngoài ra tôi thấy cần nhấn mạnh rằng các tôn giáo không phải là một nguy hiểm cho tình đoàn kết quốc gia, vì các tôn giáo nhằm giúp mỗi con ngưởi tự thánh hóa, và qua các tổ chức của mình, các tôn giáo mong muốn quảng đại phục vụ tha nhân một cách vô vị lợi.


***


Cũng phải, Vatican là một nhà nước, đời nào hy sinh mối quan hệ ngoại giao cấp nhà nước lấy mấy cái nhà nát Tam tòa hay Nhà chung. Nghĩ tội cho cừu Việt, hay là quay phứt về dựng một ông răng đen mắt toét nào đó lên thờ riêng, chứ suốt ngày ạ ông tóc quăn mũi lõ thì còn phải dằn dỗi nhiều nhiều dài lâu, ngay cả khi ngài đại sứ quán chính thức ngồi ở VN.

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2009

Đất nước ngồi xuống

Hôm qua, up bài Thời đại không anh hùng lên không phải vì Ok với Thái Dám. Tranh luận nghiêm túc với chú này thì tớ không đủ trình, biết thân biết phận, tớ bàn ngang phè như sau.


Dân gian phong hàng thánh bất tử có bốn vị. Cụ Thánh Gióng chống giặc ngoại xâm, cụ Thánh Tản chống thiên tai, cụ Chử Đồng Tử chuyên làm ăn buôn bán và cụ Liễu Hạnh lo phần tinh thần cho chúng sinh. Hình như là cụ Liễu Hạnh còn sinh sau đẻ muộn hơn cụ Trần Hưng Đạo, dân gian, miệng vẫn gọi đức Thánh Trần nhưng dứt điểm không xếp cụ sinh trước vào hàng bất tử.


Anh hùng không phải là thánh và anh hùng chỉ sống dài hơn đám đông chứ không bất tử trong tâm thức của cả một tộc người. Càng gần đến thời hiện đại, anh hùng càng dùng nhiều đến thuật PR. Nếu cụ Thánh Gióng là ông tổ của nghề phi công Việt nam, cụ Chử đồng tử là ông tổ của nghề mại dâm, thì ông tổ của nghề marketing và PR, chắc chắn là từ một anh hùng.


Anh hùng hay lãnh tụ hay thủ lĩnh hay bang chủ của một thời đại, chỉ sinh ra khi thời đại ấy có một bước ngoặt cực lớn. Xét theo tiêu chí này, thì không nên đổ lỗi cho cụ Lê Duẩn trong việc thiếu vắng anh hùng, đến nỗi các bác phản biện phải mượn đến ông cụ 90 nói không ra hơi( làm gì có chuyện ngồi để viết nổi thư với chả từ) chống lưng.


Có một bác phản biện hầm bà lằng xáng cấu cổ kim đông tây hồi xưa viết cuốn Đất nước đứng lên, bây giờ mà bác ấy viết tiếp Đất nước ngồi xuống, thành anh hùng may ra.

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2009

Thời đại không anh hùng- Copy có lược bỏ từ Thái Dám

Biểu tượng anh hùng cổ xưa nhất của người Việt Nam chắc chắn là hình ảnh Thánh Gióng. Kể từ Phù Đổng Thiên vương nửa huyền thoại, hầu như tất cả các anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam đều phải là những lãnh tụ lập quốc, hoặc là danh tướng chiến thắng ngoại xâm. Sự thiên lệch rất dễ hiểu. Sinh tồn bên cạnh các triều đại thực dân phong kiến Trung Hoa, ác mộng mất nước đã được hóa giải và động viên bằng hàng chục cái tên lẫy lừng: Lý Bôn, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ… Chiến thắng ngoại xâm, cởi bỏ ách nô lệ cho quốc gia cũng là lẽ chính thống đầu tiên của bất cứ ngai vàng nào. Thậm chí thống nhất đất nước, mở mang bờ cõi gấp đôi như nhà Nguyễn và tổ tiên họ đã làm, chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ, để hoàng đế khai quốc Nguyễn Ánh đường hoàng bước vào ngôi đền thiêng cùng với tiền nhân.



Điểm sáng đáng để ý nhất của Âu Lạc có lẽ là tinh thần đoàn kết của các Lạc tướng và nhân dân trước họa ngoại xâm. Luôn xuất hiện một thủ lĩnh đứng lên đóng vai trò Lạc vương khi chiến tranh vượt khỏi tính chất cục bộ trong bản thân Âu Lạc. Truyện cổ tích Thánh Gióng chứng tỏ điều đó. Muôn nhà đã góp cơm cho người anh hùng lớn nhanh như thổi. Hình ảnh và hành động của ông vua cho bắc loa cầu hiền chống giặc khá mờ nhạt, e rằng chỉ là biểu tượng được thêu dệt thêm về sau. Giặc tan thì vai trò của Thánh Gióng cũng hết, ông phải bay về trời.



Cụ Hồ đã hoàn toàn làm chủ tư chất lãnh tụ của mình, bằng một câu nói giản dị nhưng có sự liên thông và thấu hiểu cao độ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Những lãnh tụ lập quốc thường có đường thông nối ý thức của họ với tiềm thức dân tộc và nhân dân, thậm chí nhân loại. Họ luôn biết phải nói cái gì, lúc nào và nói ra sao để đánh thức thời đại. Truyền thống yêu nước và đoàn kết chống xâm lược của người Việt Nam có nguồn gốc sâu xa như thế. Nó là bản năng, chứ không thể gọi là bản chất đơn thuần.


Bản năng dân tộc được đánh thức, cộng hưởng với âm ba thời đại và khao khát độc lập để làm nên chiến thắng đắt giá cho dân tộc Việt Nam trước người Pháp và người Mỹ. Đúng qui luật, ngôi đền anh hùng của người Việt đã kết nạp hai cái tên đương thời: Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Võ Nguyên Giáp nhận được sự đồng thuận xã hội cao hơn hẳn Hồ Chí Minh cũng dễ hiểu. Ông là nhân vật quân sự thuần túy, ít gây ra tranh cãi và bị phủ định bởi ẩn ức cá nhân giữa dòng chính trị chìm nổi. Điều thú vị khi so sánh hai vị anh hùng này là, xét về công trạng, Hồ Chí Minh mang danh quốc phụ (người cha của một chính thể, người lập quốc) trong khi họ Võ chỉ là đại công thần khai quốc. Chúng ta có thể chiêm nghiệm tư duy “đắp tượng đài” đặc thù của người Việt Nam khi đặt hai anh hùng này cạnh nhau.


***


Mở rộng chủ đề “Về tên gọi cuộc chiến Việt – Trung 1979” trên diễn đàn BBC, tôi ngạc nhiên nhận ra xung đột Việt – Hoa 1979 nếu gọi là chiến tranh vệ quốc thì tại sao trong tâm thức người Việt Nam không hiện lên một cái tên anh hùng? Sẽ có người bảo rằng độ thấm của thời gian chưa dài? Đâu hẳn, không cần ba mươi năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Võ Nguyên Giáp đã đường hoàng bất tử trong lòng dân tộc, chẳng thể lung lay trước mọi chèn ép của cả một thể chế dưới ngọn cờ Lê Duẩn. Những người Việt Nam hừng hực yêu nước có thể dễ dàng chỉ ra một hiện thân của Thoát Hoan như Hứa Thế Hữu, nhưng lại bất lực nếu bị truy hỏi phiên bản Trần Hưng Đạo của thế kỷ 20.


Thời đại “không anh hùng” dưới sự lãnh đạo của tổng bí thư Lê Duẩn, “đêm trước đổi mới” 1975 – 1986 với nút thắt 1979 và chiến cuộc Khơ Me dai dẳng, có lẽ đã tạo nên một khoảng trống không thể khỏa lấp trong hành trang tư tưởng dân tộc Việt Nam khi bước vào thế kỷ 21.



Những lãnh tụ Việt Nam hôm nay là ai, nếu không phải lớp “tam thập nhi lập” vào năm 1979. Họ là nhóm người hiểu sâu sắc, hiểu kỹ lưỡng nhất cuộc khủng hoảng trầm trọng của xã hội Việt Nam sau xung đột 1979. Trong sâu thẳm kinh nghiệm của họ, đối đầu cương quyết với Trung Quốc chỉ toàn là bất lợi. Phải chăng đó là lí do khiến người dân Việt Nam đang bất an, mỗi khi nhắc đến cái tên Trung Quốc?


Tư tưởng Hồ Chí Minh lên ngôi vào đầu thập niên 90 thế kỷ trước, cho đến nay, chưa có kết quả sáng sủa. Trong vết xe cũ mòn ấy, nhóm trí thức phản đối Bauxite hiện nay cũng đang gắng gượng dùng hình tượng anh hùng Võ Nguyên Giáp để chống lưng cho mặt trận của mình. Sự bế tắc nên được gọi đúng tên: Thời đại không có anh hùng.


Sự bế tắc ấy bàng bạc trong tất cả suy tư của xã hội hiện đại. Giả như vừa rồi, trí thức Việt Nam ồ lên đồng tình với bài “Việt Nam - Chặt cầu để tiến lên” của tác giả Vũ Minh Khương Từ một tiền đề “chuyện xưa” mơ hồ (thực ra là món cocktail giữa Sạn đạo của Lưu Bang, lập trận quay lưng ra sông của Hàn Tín và chi tiết cắt cầu phao của Tôn Sĩ Nghị), cộng với những phân tích và con số có vẻ rất có lý, tác giả hồ hởi với tín điều “tiến lên ngày mai tươi sáng” bằng cách đoạn tuyệt với cái cũ cụ thể. Tư tưởng của bài viết kia, ngoa ngôn một chút, cũng tương đương với thơ Bút Tre, kể cả vần điệu “hàng đầu” và “chặt cầu” có thể hoán vị cho nhau:


Tiến lên, ta quyết tiến lên


Tiến lên, ta quyết tiến lên hàng đầu


Hàng đầu không biết đi đâu


Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi


Với những người tự nhận là hoạt động dân chủ, sự bế tắc chung đã nêu được họ thu nhỏ ở mức độ thể chế - chế độ, qua đó người ta mơ mộng và bay bổng trong những mỹ từ dân chủ, tự do, nhưng hoàn toàn bất lực khi chỉ ra dân chủ là hành trình hay đích đến của một xã hội văn minh.


Sự bế tắc tư tưởng của xã hội Việt Nam hiện nay, cũng là môi trường thuận lợi để các mâu thuẫn nhà nước và nhà thờ liên tục bùng phát.


***


Dân tộc Việt Nam từng được gắn kết chặt chẽ bằng những cái tên anh hùng, bằng chất keo chiến thắng và căn cước sinh tồn bên cạnh người Trung Hoa, văn hóa Trung Hoa hàng ngàn năm nay. Hình ảnh người anh hùng chẳng qua là biểu trưng của tư tưởng thời đại mà thôi.


Giữa vận hội mới, người Việt Nam đã để các tiền nhân đi lạc, trong khi vẫn thiếu vắng những nhân tố mới. Do đó, nguy cơ thuận theo quĩ đạo Trung Hoa trước mắt là vô cùng lớn. Ở trong “thế giới Trung Hoa”, cảm giác “ổn định” hay “hài hòa” là một, chúng sinh ra từ cung điện Thái hòa của nhiều vương triều Việt – Trung với tâm tư nguyên thủy của vua Tần, truyền ngôi cho con cháu đến vạn thế. Ở góc độ nào đấy, nếu “ổn định” không đồng hành cùng “tiến bộ”, nó sẽ trở thành chướng ngại cản đường, sẽ làm trì độn cả một cộng đồng.


 Một dân tộc phi nhược tiểu luôn là một dân tộc có tư tưởng riêng và liên tục tìm kiếm tiến bộ trong sự ổn định chấp nhận được. Vấn nạn “không anh hùng” hiện nay của sinh thể Việt Nam được một số trưởng lão qui chiếu trên tâm thế cá nhân là “hèn”. Âu cũng là nỗi đau không hề kín đáo, của những người luôn suy tư cho tiền đồ đất mẹ.