Thứ Năm, 27 tháng 5, 2010

Tại sao mình kính trọng bác Quang A

Tỷ lệ của tổng số tiền vay để làm một dự án trên số tiền riêng của chủ sở hữu dùng cho dự án đó được gọi là tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Tỷ lệ đòn bẩy càng cao thì tỷ lệ lời (hay lỗ) trên vốn của chủ sở hữu càng lớn. Nếu dự án hiệu quả, thì vay được càng nhiều càng tốt. Nếu dự án không hiệu quả (lỗ) thì chủ sở hữu có thể sạt nghiệp rất nhanh chóng hay chủ nợ có thể mất tiền vì người vay phá sản và không có gì để trả.


Rắc rối là ở chữ “nếu”. Chúng ta chỉ biết hiệu quả của dự án sau khi dự án đã hoàn thành. Trước đó tất cả chỉ là dự đoán. Mà dự đoán rất hay bị sai. Có các dự án có hiệu quả, có các dự án không. Đấy là chuyện bình thường, là chuyện hằng ngày mà chúng ta phải đối mặt và quản lý rủi ro là câu chuyện hàng đầu của những người kinh doanh.


Đối với một nước cũng vậy. Vay được tiền để xây dựng đất nước là việc rất tốt. Song luôn phải tính đến khả năng thực của mình (kể cả khả năng quản lý, khả năng tiêu tiền) và, quan trọng nhất, là phải tiêu tiền vay một cách hiệu quả. Nếu không, sẽ đẩy đất nước vào cảnh nợ nần. Tỷ lệ nợ công trên GDP là một chỉ số tổng hợp có ý nghĩa nào đó gần giống tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Tỷ lệ ấy càng cao, rủi ro càng lớn. Công nợ trên 40% GDP được coi là không an toàn.


Nợ công thực sự là bao nhiêu?


Nhưng nợ công thực sự ở Việt Nam là bao nhiêu? Có nhiều số liệu không nhất quán.


Theo Bộ Tài chính, ở thời điểm 30-6-2009, nợ nước ngoài của Việt Nam bằng 29,8 % GDP (23,6 tỷ USD). Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội ngày 20-5-2010 nói “Dư nợ Chính phủ và dư nợ quốc gia nằm trong giới hạn an toàn” nhưng không thấy nêu con số.


Người ta nói tổng số dư nợ công đến cuối năm 2009 của Việt Nam khoảng 44,7% GDP, trong đó nợ của Chính phủ là 35,4% GDP, nợ được Chính phủ bảo lãnh là 7,9% GDP và nợ của chính quyền địa phương là 1,4% GDP.


Theo The World Factbook (tạm dịch: Sách Sự kiện Thế giới) của một tổ chức chính phủ ở Mỹ, nợ công ở Việt Nam năm 2008 ở mức 38,60% GDP nhưng năm 2009 đã tăng rất nhanh, lên mức 52,30% GDP, đứng hàng thứ 44/129 quốc gia về nợ nần. (Vẫn theo phân loại trong cuốn sách này, mức nợ công thấp nhất là 1,1% và mức cao nhất là 304,3% GDP; có 44 quốc gia có nợ công trên 50% GDP).


Mỹ là nước mang tiếng nợ nần nhiều nhất nhưng nợ công chỉ chiếm 39,70% GDP. Trong các nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), chỉ Philippines có nợ công cao hơn Việt Nam . Tại châu Âu, Hy Lạp đã thực sự vỡ nợ và phải cầu cứu đến gói cứu trợ 120 tỷ euro của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các nước thuộc Vùng Euro (Euro Zone). Cuối năm 2009, nước này có mức nợ công chiếm 108,10% GDP.


Điều đáng chú ý là nợ công của chúng ta tăng rất nhanh, trong khi hiệu quả chi tiêu, hiệu quả đầu tư không cao, nạn tham nhũng tràn lan và nạn khát đầu tư của các cơ quan nhà nước vẫn không hề dịu đi.


Minh chứng là các siêu dự án được đưa ra tới tấp như dự án đường sắt cao tốc gần 56 tỷ USD của Bộ Giao thông Vận tải đang được Quốc hội Khóa XII, Kỳ họp thứ 7, xem xét, và dự án quy hoạch chung Hà Nội của Bộ Xây dựng, chỉ tính đầu tư cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật đến năm 2030, khoảng 60 tỷ USD…


Một số quan chức vẫn lạc quan, thậm chí có người còn cho rằng “nếu nợ công cao hơn nữa, vẫn đảm bảo trong giới hạn an toàn cho phép”. Nhưng số liệu cụ thể thì không nêu, giới hạn an toàn cũng chẳng công bố. Thậm chí có người còn nói người ta nợ cả 80%-100% GDP có sao đâu (!?).


Nếu coi 40% GDP là giới hạn an toàn thì dường như chúng ta đã vượt quá rồi. Đó là chưa kể đến các khoản sẽ phải vay nếu các siêu dự án được tiến hành.


Hãy nhớ lại kinh nghiệm của chính mình và bài học của những người khác.


Từ 1993 đến 2003 chính Chính phủ Việt Nam đã phải rất vất vả để cơ cấu lại nợ nước ngoài. Đó là việc xử lý với IMF (1993); xử lý nợ chính thức qua Câu lạc bộ Paris (1993); xử lý nợ thương mại qua Câu lạc bộ Luân Đôn (1998); xử lý nợ với các nước chủ nợ song phương khác. Tổng cộng giảm được trên 11 tỷ USD nghĩa vụ nợ nước ngoài.


Hãy ngó tình hình bất ổn của Hy Lạp không biết bao nhiêu năm nữa mới thoát được ra.


Sẽ chẳng ai xóa nợ cho con cháu chúng ta; và con cháu chúng ta cũng chẳng cần phải làm vậy nếu chúng ta, thế hệ hiện tại hành động có trách nhiệm hơn.


Nguyễn Quang A


 


Bận quá, mang về bày đây đã. Bài đăng trên Tiền Phong. Đang đọc lại cuốn Bằng sức mạnh tư duy bác A dịch từ hồi nẳm vẫn thấy hay như cũ.

Thứ Tư, 19 tháng 5, 2010

copy từ dzunglam

Lại bực mình


Cơ khổ, trót đưa lên blog và sau đó được bác Gốc Sậy úp lại và cũng trót đưa tin cho thằng em ở báo Thanh Niên về  mấy hạt thóc tìm thấy trong hố khai quật Thành Dền tự dưng dở chứng nảy mầm do bảo quản trong môi trường ẩm (cứ như mọi khi đem phơi khô ráo tiệt từ đá, đến gốm, đến xương...thì chả làm sao sất) và cứ tưởng bài trên báo Thanh Niên hôm nay đã làm rõ những ý kiến của mình. Nào ngờ suốt từ sáng đến giờ làm việc không yên, tí một lại reng reng... đòi phỏng vấn qua điện thoại hay xin gặp ở Hà Nội.


Sợ thật cho báo với chí nhà mình, PV bây giờ chỉ muốn ngồi trong phòng lạnh, moi tin giật gân, viết bài kiếm nhuận bút. Cuối cùng chỉ có báo Khoa học và Đời Sống và em Kiều Trinh ở TTXVN là chịu sang tận nơi khai quật xem hiện trường, xem hiện vật, quan sát các nhà khảo cổ làm việc, số còn lại khi nghe mình bảo mình không trả lời qua điện thoại và không ở Hà Nội thì các em đều rút lui. Tuy vậy giở trang Vnexpress ra vẫn thấy có bài của PV ngồi tại Hà Nội xào xáo từ bài của báo Thanh Niên, ảnh chụp thì chắc xin của PV báo Thanh Niên và lấy từ Blog của mình (may mà còn ghi người chụp). 


Mà sao Thành Dền quá nhiều cái hay và thú vị, PV chả ai thèm hỏi, chỉ chăm chăm đến thóc nảy mầm, tự nhiên thấy "giá mà chúng đừng nẩy mầm" thì có lẽ tốt hơn. Một lần nữa chán cho báo chí nước nhà quá.


Nghe ý kiến trả lời của một số nhà khoa học có tên tuổi thì còn chán hơn, ở đâu ra cái thái độ của người làm khoa học khi chưa nghiên cứu, chưa tìm hiểu thông tin đến nơi đến chốn đã trả lời TIN hay KHÔNG TIN! Phải HOÀI NGHI và KHÔNG ĐƯỢC KHẲNG ĐỊNH hay PHỦ ĐỊNH NGAY những THÔNG TIN MỚI!


Mình sẽ cố gắng đưa thông tin thật khách quan (nhưng không báo chí gì nữa), lấy tài liệu và khai quật thật cẩn thận, và mọi kết luận cuối cùng đang còn ở phía trước, sẽ còn nhiều chông gai đây, chắc Thầy và Ba sẽ phù hộ cho mình nghiên cứu vấn đề này đến nơi đến chốn!


Có người còn khuyên mình "Đừng làm vì DANH em ạ"! Nghe rất chân tình và quan tâm, nhưng mình cảm thấy LỘN MỬA vì kiểu nói như thế! Không thể hiểu được sao họ lại "suy bụng ta ra bụng người" thế cơ chứ!


MONG MỌI NGƯỜI ĐỂ YÊN CHO MÌNH VÀ CẢ NHỮNG HẠT THÓC CỦA MÌNH!


Dù sao, vẫn phải đãi đất tìm thóc, gạo và tàn tích thức ăn trong các hố rác bếp ở hố 3. Do các cánh đồng lúa xung quanh khu khai quật đã bắt đầu chín, nên phải đem đất về nhà đãi bằng nước giếng khoan cho nó chắc, để hạt mới không lẫn vào hạt cổ. Nói chung nhìn bằng mắt thường cũng có thể thấy sự khác biệt giữa những hạt mới và hạt cũ, hạt cổ.


Một hạt gạo cháy thành than, cũng có một số hạt thóc, nhưng toàn thóc lép, cả ngày hôm qua được 2 hạt thóc mẩy, cuối giờ chiều mình cũng tìm được 1 hạt thóc mẩy, đưa ngay cho Tiến ử ẩm, xem có nảy mầm nữa không.


Thức ăn của người Thành Dền xưa xem ra chủ yếu là cơm và cá! chả thấy xương động vật lớn mấy, hôm nọ bác Thủy sang đã xác định có răng lợn sữa, còn Mai Hương thì xác định có đỗ tương.


Chả nhẽ bà con đã làm tương! Đậu phụ thì chưa rõ, chỉ biết đậu phụ Mê Linh hiện nay cực ngon! Ngày nào chị chủ cũng cho ăn, chỉ sợ mấy anh giai khảo cổ bị ảnh hưởng!

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2010

NHỜ VẢ GẤP

BÁC NÀO CÓ ĐỊA CHỈ LIÊN LỆ CÁC KHÁCH SẠN TẠI BANGKOK TỪ 5 SAO XUỐNG 0 SAO TRỪ NGÀN SAO CHỊU NHẬN KHÁCH CHO BEO XIN TRƯỚC 3 GIỜ CHIỀU NAY.


BEO XIN HẬU TẠ BẰNG CHUYỆN BANGKOK CÓ BONUS THÊM CHUYỆN ĐẤT QUÊ TA MÊNH MÔNG CHÂN EM DÀI VÔ CÙNG CỦA ĐẠI GIA KIỀU DIỄM LỆ VÀ CHUYỆN MA ÁM CỦA BÁC BÁ VƯƠNG MIỀN TRUNG.


CHÂN CHỌNG CẢM ƠN CHƯỚC

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2010

ĐÓNG BLOG

VỪA ĐỌC TRÊN BLOG THIỀM THỪ THẤY LỜI NHẮN, CÓ MỘT BLOG BEO PHIÊN BẢN. BEO VỐN DỐT IT, NÊN SẼ KHÔNG TÌM HIỂU KẺ NÀO ĐÃ HAI LẦN MỞ ĐƯỢC MẬT KHẨU ĐỂ LÀM NHỮNG CHUYỆN TRÊN.


BEO ĐÓNG BLOG, KHÔNG CHƠI BLOG NỮA TỪ HÔM NAY.