Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

BỞI CHIẾN TRANH ĐÂU PHẢI TRÒ ĐÙA...

<!--[if gte mso 10]>

table.MsoNormalTable
{
font-size:10.0pt;
font-family:"Times New Roman";
}

-->


Tác giả bài viết

Bố em, 18 tuổi vào bộ đội.
Năm đó là 1974, chiến tranh đã vào hồi cuối, bố là lớp tân binh nên còn huấn
luyện chán chê để rồi tuyển lựa "đi B". May mắn thay, bố chưa đến đợt
đi B thì chiến tranh kết thúc, 1977 bố giải ngũ trở về, cưới vợ.


Tháng 8/1978, chị cả em ra
đời, sau đó chỉ một tháng, chú Tư - em trai ruột của bố em, có lệnh gọi nhập
ngũ. Chú vừa nhát vừa hiền, lại vừa cưới vợ nên bố xin đi thay chú. Đất nước
đang cần người đã có kinh nghiệm, đơn tình nguyện của bố được chấp thuận ngay.
Mẹ em, chị và ông bà tiễn bố lên đường.


Vài tháng sau, bố đi K (chiến
trường Campuchia). Chuyến tàu đưa bố đi từ ga Hải Phòng, đơn vị bố có hơn 40 người
Hải Phòng, vào đến Quảng Trị còn 14 người. Họ nhảy tàu vì đi B thì sẵn sàng
nhưng đi K thì khác.


Thời gian đầu còn có chút tin
bố về nhà, càng về sau càng biền biệt. Mấy năm sau có giấy báo tử gửi về, bà
nội khụy xuống trước thềm nhà. Suốt tháng trời bà mê man chỉ đòi chống gậy đi
tìm con, bà bảo bố em không thể nào chết được.


Mẹ ôm chị gái em từ căn nhà
riêng về ở với ông bà vì chị ốm quá, lên sởi mủ xanh mủ vàng đã có lần thiếp
đi, chú mang ra góc giường đặt, mẹ khóc ngất, bỗng thấy cánh tay chị vời lên,
mẹ lại ôm chị, chăm nuôi bú mớm. Những năm tháng ấy, bố vẫn biền biệt bên kia,
không hay biết gì về tình cảnh bi đát của con thơ, mẹ già.


Rồi bố bị thương trong một
lần đi họp giao ban buổi tối: đạp trúng mìn, bàn chân dập nát, đồng đội đưa về
trạm quân y dã chiến giữa cánh đồng hoang. Sợ tiếp tế đến không kịp, bác sĩ y tá
cưa chân cho bố, cưa sống, đồng đội hát quốc ca bao nhiêu vẫn không át nổi
tiếng gào thét. Rồi 2 ngày sau bố mới được chuyển về Sài Gòn bằng trực thăng,
lần này nằm viện, cưa thêm một lần nữa vì vết cưa cũ bị nhiễm trùng. Điều dưỡng
thêm vài năm nữa 1/3 chân phải của bố đã không còn, một mảnh đạn găm ở đùi và
hai tai bị điếc nhẹ. Bố về nhà với giấy chứng thương 2/4, mất sức 65%. Nhưng
còn về được đã là đại phúc cho cả nhà mình, bố kể hồi mới sang được 1 tháng,
chính tay bố đã phải gói hài cốt của bạn mình để trực thăng mang về.


Ngày bố về, nét mặt dữ dằn
hơn, những cơn đau mê sảng thỉnh thoảng vẫn trở lại, chị em nhất định không
nhận bố vì sợ cái nạng và cái chân gỗ bố tháo ra lắp vào mỗi sáng tối. Ngay cả
đến đời con trai của chị, cháu ngoại của bố, mỗi lần nhìn cái chân ấy nó đều
khóc thét. Bố mất cả tháng giời chỉ để làm quen và ôm con gái mình vào lòng mà
không làm nó sợ. Đúng, em là gái, em chỉ nhìn những thứ xung quanh mình, em
nhìn thấy chiến tranh và hậu quả của nó trong suốt 18 năm sống bên bố, những lần
sợ hãi đến run rẩy khi bố em mắt vằn tia máu lên nóng giận vì những điều không
lớn lao gì, khi bố em những đêm rên rỉ trong vô thức vì mảnh đạn trong người,
khi bố em có những lần đi xe máy hơi quẹt xe đã ngã vì không thể dùng chân giả
mà chống như người ta được.


Bố em chưa một lần than vãn
gì về chiến tranh, kêu ca gì về sự đãi ngộ của nước nhà cho những người thương
bệnh binh như bố, bố vẫn bươn trải bán buôn ngược xuôi để nuôi con học hành. Em
nhớ mãi một lần lớp 11, em học kém bị bố đánh, đánh xong bố nói rất nhiều,
nhưng có một câu em không thể nào quên được, bố bảo: "Chị em chúng mày
đang đi học bằng tiền xương máu của tao đấy con ạ". Đúng, chúng em từ Cấp
1 cho đến hết Đại học đều được miễn học phí vì bố là thương binh.


Bao nhiêu năm em sống trên
đời là bấy nhiêu năm em thấy mẹ chăm bẵm bố em từ miếng cơm, phích nước, ấm
trà, là thấy mẹ chịu đựng đủ sự nóng nảy của bố do thay đổi tâm tính từ lúc trở
về. Có đôi lần ai đó nói đến chiến tranh, mẹ em chỉ lơ đãng nói một điều:
"Kể cả có chiến tranh, thằng HA (em trai em) nhà này cũng không bị gọi đi
nhập ngũ đâu, nó con một, bố lại thương binh yếu đuối thế kia".


Các bạn có thể cười rằng mẹ
suy nghĩ hạn hẹp và ích kỷ, nhưng nếu các bạn đã từng vùi cả tuổi xuân của mình
để chờ chồng, nuôi cha mẹ già con thơ và dành cả cuộc đời để xoa dịu những vết
thương chiến tranh, các bạn sẽ dễ cảm thông cho mẹ em biết chừng nào. Chiến
tranh không đùa với ai cả, cũng không phải cứ hạ súng thì đã là kết thúc thế
nên, còn hòa bình được ngày nào, hãy cố mà gìn giữ.


 


 

Phụ nữ Việt Nam thực sự

chép từ Tin khó tin trong lúc chờ yahoo hết bi lỗi

Mới vài tháng trước, một hot gơn đã ra tuyên ngôn không độc lập,
quyết sống ngoan và dựa vào người khác, nhận được sự ủng hộ của nhiều
người cùng ý tưởng rằng phụ nữ thì phải “ngoan”. Cũng trong vài
năm trở lại đây, thi thoảng báo chí lại đăng bài về những cờ-líp, tin
tức xoay quanh việc các em nữ sinh bé bỏng, đáng iu của chúng ta đàn áp,
đánh đấm, bắt các em xinh tươi không kém phải quỳ xuống xin lỗi, khóc
lóc, đá vào mặt vào bụng, vv vô cùng tàn ác. Trước hiện tượng đó, các
nhà báo, nhà giáo và đặc biệt là những người-tự-nghĩ-mình-là-nhà-gì-đấy,
còn gọi là “công dân mạng”, đồng loạt lên tiếng phản đối. Họ
chửi bới, lên án, đòi có những sự trừng phạt thích đáng đối với những em
nữ sinh đáng yêu từng ấy. Họ kêu gọi là mất hết thuần phong mỹ tục, cho
rằng phụ nữ Việt Nam phải thùy mị nết na, hiền lành dịu dàng. Người
viết bài xin đặt ra câu hỏi, những cái thứ thùy mị nết na đấy lấy ở đâu
ra?


Tôi xin khẳng định rằng, nói về phụ nữ Việt Nam mà áp những cái chuẩn
mực thùy mị nết na, hiền lành dịu dàng là sự sỉ nhục lớn với văn hóa
Việt Nam. Từ thưở mở cõi, Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh ra trăm trứng,
nở trăm con, sau vì không hợp nhau, hai vợ chồng đưa nhau ra tòa ly hôn,
năm mươi con theo cha xuống biển, năm mươi con theo mẹ lên núi. Con cả
theo mẹ, xưng làm Hùng Vương, định đô ở Phong Châu. Như vậy từ những
ngày đầu mở cõi, Âu Cơ đã chiếm phần hơn trong việc chia tài sản. Từ đó
trở đi dân gian, tục ngữ của chúng ta cũng có biết bao nhiêu câu ca ngợi
vai trò của người phụ nữ: “lệnh ông không bằng cồng bà”, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”


Chỉ liếc qua kho tàng chuyện cổ dân gian, cũng có biết bao tấm gương
về bản lĩnh người phụ nữ. Trong truyện Tấm Cám, khi nhà vua oai phong
chỉ dám cưỡi ngựa lượn đường, trà chanh đọc báo, thì hai chị em Tấm Cám
giết nhau năm lần bảy lượt bằng những thủ đọan tàn bạo. Giả sử hai chị
em sống thời nay, thì sẽ tạo một cơn bão truyền thông hơn đứt Nguyễn Văn
Luyện với những tít bài như “Vì giỏ tép mất tình chị em”, “Ngã từ
lưng chừng cau, nạn nhân chưa kịp kêu đau đã chết”, “Kinh hoàng trong
mắm có thịt người, cơ quan kiểm dịch đang vào cuộc”,
hay “Có hay không việc một bà già trồng thị được hot gơn?”  Cả
câu chuyện có ba người phụ nữ thật lắm mưu mô, chỉ phảng phất vài hình
bóng những người đàn ông hiền lành, chỉ biết đem quần áo đẹp và hài lụa
hàng hiệu cho hot gơn, khi vợ chết chỉ biết lấy vợ mới không dám có phản
ứng gì. Tương tự, Mai An Tiêm hay Lang Liêu với vua cha thì bật như
tôm, nhưng việc trong nhà nhất nhất đều hỏi ý kiến vợ rồi mới dám làm.
Hai chàng trai đó sau đều nên người cả.


Một số người cho rằng chuyện cổ tích, chuyện dân gian đều là hư cấu, không đáng tin, vậy tôi xin đưa ra những dẫn chứng lịch sử.


Hai Bà Trưng dưới sự giúp đỡ của mẹ là bà Man Thiện, đã đứng lên khởi
nghĩa, Hai Bà cưỡi voi ra trận, đuổi cả thái thú ra ngoài bờ cõi. Tiếp
nối sau Hai Bà Trưng, là Bà Triệu. Bà là gái Thanh Hóa hung dữ ghê gớm,
cãi chị dâu, ép anh trai khởi nghĩa, bắt voi trắng một ngà, khiến lũ
Khựa phải than:


Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà vương nan.

Dịch:


Múa giáo đánh cọp dễ,
Đối mặt Vua Bà thì thực khó.

Ý chúng nó là Bà Triệu dữ hơn cả cọp.


Kế đến là thái hậu Ỷ Lan, không hung dữ như bà Trưng bà Triệu, nhưng
cũng hiểm ác không thua gì cô Tấm.Ỷ Lan đẩy Vợ cả và 72 cung nữ bị chôn
sống, trị nước vững vàng. Lý Thánh Tông là chồng, đi đánh giặc nửa đường
quay về, ngồi nghĩ tới cảnh bị vợ đay nghiến mắng chửi, đành tiếp tục
quay lại đánh Chiêm Thành. Thế mới biết vợ còn đáng sợ hơn cả giặc.


Trong thời kì hiện đại, lịch sử văn học nước nhà đầy rẫy những tiếng
than của những người đàn ông bị đàn áp. Ví dụ trong truyện ngắn “Vợ Nhặt” (Kim Lân) vợ
anh Tràng ăn liền bốn bát bánh đúc, về nhà hôm trước thì hôm sau cho mẹ
chồng ăn cám. Anh Tràng hôm sau tự dưng muốn đi chống Nhật, chắc sau
một đêm hiểu rằng vợ mình ác hơn phát xít. Ngô Tất Tố cũng bừng bừng khí
thế viết tác phẩm “Tắt Đèn” để phản ánh việc một người phụ nữ
dám đánh lính lệ, đạp quan huyện, lên phố làm ô-sin thì đẩy cả ông chủ
trong khi chồng chị sợ quá chỉ dám nằm còng queo.


Còn qua tác phẩm “Tỏa Nhị Kiều” của Xuân Diệu, chúng ta thấy
tiêu chí phụ nữ Hà Nội lý tưởng của những năm trước khác hẳn những gì
mà giới truyền thông đang truyền bá. Người phụ nữ mà Xuân Diệu mơ ước
là:


“Giá họ đừng hiền lành như thế thì hơn, giá họ đàng điếm, hung
dữ, trơ trẽn, lẳng lơ tôi sẽ được vui … Tôi sẽ được cười nếu thấy họ đi
đua xe đạp, tôi sẽ được thản nhiên, nếu thấy họ đỏm dáng chòng ghẹo bất
cứ người nào. Tôi ước được gặp họ chửi mắng người ở, đánh đập con sen
tôi mong họ ngoa mồm lên, lay động hai cặp môi đắp son đỏ choét. Tôi
muốn mặt họ bự phấn, tôi cầu cho họ làm bộ làm tịch, lố lăng bao nhiêu
cũng được”


Nói qua nói lại chỉ để nhận thấy rằng, phụ nữ Việt Nam vốn không có truyền thống dịu dàng, nhẹ nhàng yểu điệu. Việc bắt họ phải “ngoan”
hay dịu dàng là do nhiều người nhiễm tư tưởng đạo Khổng từ Trung Quốc
rồi tuyên truyền với mục đích gây rối, tạo mối chia rẽ trong cộng đồng
người Việt, nặng thì có thể dẫn tới nội chiến, nhẹ thì làm thui chột ý
chí của trên 50% dân số Việt Nam.


Trở lại xã hội hiện nay, tôi khuyến nghị các anh đàn ông con trai,
nên gạt bỏ tư tưởng cổ hủ, lạc hậu, góp phần giữ gìn truyền thống dân
tộc. Chị em phụ nữ nên vùng dậy, giành quyền làm chủ, bảo vệ chính mình.
Còn về quan điểm cá nhân tôi, tôi xin theo nhà văn Vũ Trọng Phụng: “Phụ
nữ nghĩa là vợ con chị em người khác chứ không phải vợ con chị em của
tôi. Gia đình tôi thì cứ phải theo cổ, không được có hạng đàn bà ăn mặc
tân thời nay khiêu vũ, mai chợ phiên, rồi về nhà chửi lại mẹ chồng bằng
những lý thuyết bình quyền với giải phóng.” (Số đỏ – Vũ Trọng Phụng)


Thứ Năm, 26 tháng 7, 2012

chính khách lá ngón


Phạm Thị
Hoài viết thế này: Sự “thành công” dễ dàng và dễ dãi của trang
tin  (
Quan làm báo-Beo) này chỉ cho thấy một điều:
người tiêu thụ thông tin đổ xô ra chợ giời và chấp nhận tất cả nguy cơ bị lừa ở
đó, khi hệ thống mậu dịch quốc doanh không làm họ thỏa mãn, và nhất là khi
thông tin quốc doanh lại chẳng kém đáng ngờ.


Nhận định
này cũ và cho tới nay thì sai với thực tế Việt nam.


Thể loại
báo lá cải ra đời ở châu Âu từ năm 1918. 90 năm sau, nó mới bắt đầu thịnh hành
ở Việt nam. Và 2012 này đang là thời điểm cực thịnh, không một tờ báo chính
thống ( theo nghĩa nghề nghiệp, không phải chính trị) nào trên thị trường có
thể cạnh tranh nổi với những tin loại cô người mẫu bán dâm hay con lợn 3 chân 2
đầu…


Giải thích sự “thành
công” dễ dàng và dễ dãi
này ra sao?


Không
phải do  người bỏ tiền mua báo (chưa nói đến người đọc miễn phí) không
thỏa mãn hay đáng ngờ vào báo chí quốc doanh bởi không cần để ý kỹ cũng có thể
thấy, tuyệt đại đa số những thông tin trên tuyệt đại đa số các trang phi quốc
doanh, lề trái, chợ  giời…đều lấy từ duy nhất một nguồn: báo chí quốc
doanh mà ra. Che tựa báo đặt hai tờ cạnh nhau, đôi khi khó phân biệt đâu  tờ
bàng thống đâu tờ chính thống.


20 năm trở
lại đây, giới giàu có  bắt đầu ra mặt công khai. 10
năm trở lại đây, xuất hiện thêm giới siêu giàu và giới chính khách cởi mở hơn
với công luận. Có tờ báo lá cải nào tồn tại nổi trên thế giới nếu không có  những chuyện tứ khoái của những giới này để
ăn
bám
vào
.


Việt
nam, nơi đói khát sự giàu sang quyền thế và  đố kị sự giàu sang quyền thế,
không biết đã vào hàng top thế giới chưa, nhưng nhìn đâu cũng có thể thấy ra
được ngay. Lá cải Việt nam làm thỏa mãn thêm cả  tinh thần đói khát và đố
kị ấy bên cạnh chức năng giải trí thông thường. Đánh đúng tâm lí đến vậy, không
thành công, mới lạ.


Quay trở lại
chuyện Quan làm báo.


Lá
cải, khi du nhập Việt nam,  biến thành lá ngón với những nội dung tục tĩu
bẩn thỉu đến mức  không thể phi nhân tính hơn được nữa.


Chính
khách Việt nam, thay vì quân tử đưa nhau ra giữa sân vận động để đọ nhau về
những ý tưởng lớn thay đổi vận mệnh quốc gia như chính khách người, thì lại
chui rúc vào đám lá ngón kia lén lút cách (cái) mạng (nhau).


Quốc gia hưng
vong, lá ngón hữu trách.



Còn tiếp

yahoo lại kiếm chuyện rồi

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

NGHỆ THUẬT VÀ CHỨC QUYỀN

<!--[if !mso]>

v0003a* {}
o0003a* {}
w0003a* {}
.shape {}

--><!--[if !mso]>

st10003a*{}

--><!--[if gte mso 10]>

table.MsoNormalTable
{
font-size:10.0pt;
font-family:"Times New Roman";
}

--><!--[if !mso]>

st10003a*{}

--><!--[if gte mso 10]>

table.MsoNormalTable
{
font-size:10.0pt;
font-family:"Times New Roman";
}

-->

Tác giả: nhạc sĩ ĐẶNG HỮU
PHÚC


Copy có cắt cho ngắn bớt từ
Tiền vệ


Lợi dụng chức quyền để làm...
nghệ thuật. đây là tình trạng phổ biến ở Việt Nam, một số đồng chí lãnh đạo, kể
cả cao cấp bây giờ lại kiêm cả làm thơ, viết ca khúc, hay vẽ tranh nữa, rõ là
toàn tài “cầm, kỳ, thi, hoạ”... Họ không biết mình là ai, mình có bị ngớ ngẩn
hay không? Nguyên nhân chỉ vì có rất nhiều kẻ xu nịnh, lợi dụng họ mà họ không
biết, bốc họ lên mây xanh, mang thơ của họ ra phố nhạc, hoặc mang các ca khúc
của họ ra phối âm phối khí, làm CD, dùng tiền của công, dùng uy tín của các tổ
chức xã hội lớn như Hội Nhạc sỹ, Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật vv... để mang những
“tác phẩm” này ra biểu diễn, in ấn, xuất bản vào những dịp lễ lạt của quốc
gia... Chuyện này nhiều không kể xiết, mong các nhà báo lên tiếng giùm, còn
trong bài báo này tôi xin chỉ nói riêng về lĩnh vực chuyên môn của tôi thôi: âm
nhạc thính phòng giao hưởng.


Và trước hết, tôi xin kể lại
câu chuyện thời những năm 1970. Lúc đó tôi đang học piano và sáng tác ở Trường
Âm nhạc Việt nam (TÂNVN) nay đổi tên thành Học viện âm nhạc QGVN.


Năm 1973 khi là học sinh năm
thứ 2 trung cấp sáng tác, 20 tuổi, tôi có viết một Tổ khúc (Suite) gồm 3 đoạn
cho piano độc tấu, viết xong tôi đã tặng Đặng Thái Sơn bản nhạc này với lời đề
tặng: “Tặng bạn Đặng Thái Sơn, chúc bạn thành công”. Đặng Thái Sơn lúc đó mới
15 tuổi và đã là một huyên thoai về tài năng ở trường nhạc. Sơn rất cảm động và
cũng rất quý mến tôi nên thường biểu diễn bản nhạc này.


Thời đó, trong quan hệ ngoại
giao với nước ngoài, mỗi khi có khách nước ngoài đến thăm Hà nội, ta chẳng biết
dẫn họ đi đâu? Thăm quan cái gì? Thật sự chẳng có gì để họ xem ở thủ đô Hà nội
thời ấy cả. Các di tích lịch sử của “chế độ phong kiến xấu xa” để lại, thời đó
bị đập đi rất nhiều, hoặc để hoang tàn. Như Văn Miếu thì bị bỏ hoang, nơi trú
của những người nghèo khó, nơi giải quyết “nỗi buồn” của khách đi đường (thời
đó chưa có toilet công cộng)...


Và ai đó đã sáng kiến: ở
trường âm nhạc Việt Nam
có sẵn những học sinh học biểu diễn các loại đàn và hát, miễm phí. Và thế là chuyện
vào thăm trường ÂNViệt Nam,
với một buổi biểu diễn nhỏ của học sinh là chuyện không thể thiếu của các đoàn
ngoại giao.


Tôi thỉnh thoảng cũng được
chọn để biểu diễn độc tấu piano, thường tôi chơi bản Tổ khúc này và một bản
kinh điển, như một lần tôi chơi bản Appasionata của Beethoven để đón đoàn Tây
Đức, lần thì chơi Concerto G dur của M. Ravel để tiếp đoàn Pháp...


Nhưng đặc biệt Đặng Thái Sơn
là một học sinh luôn có mặt trong các buổi biểu diễn đó, một tháng ít nhất cũng
đôi lần, tôi nghĩ nó cũng rất có ích và đã tạo nên bản lĩnh vững vàng trên sân
khấu của Sơn sau này


Trong chương trình biểu diễn
của Sơn, ngoài tác phẩm kinh điển nước ngoài, bao giờ cũng phải có một bài của
tác giả Việt nam. Đó là bài “Tổ khúc cho piano” của tôi và bài “Biến tấu trên
chủ đề Tây nguyên” của Nguyễn Văn Thương, hiệu trưởng TÂNVN thời ấy. Hai bài
này Sơn thay đổi nhau lần lượt.


Một lần có đoàn ngoại giao
của Mỹ tới, và cuộc biểu diễn tổ chức ở Phủ thủ tướng, hôm đó tới phiên bài của
tôi.


Sáng hôm sau, gặp Sơn ở trong
trường, tôi có hỏi về kết quả buổi biểu diễn tối qua, và bài của tôi Sơn chơi
thế nào? Thì Sơn trả lời: ông Thương quyết định bỏ bài Việt Nam (?)


Hoặc là tác phẩm của ông ta,
hoặc không có gì!


 Qua câu chuyện có thật
trên, tôi muốn nói về tình trạng chọn tác phẩm Việt Nam
để biểu diễn của các dàn nhạc ở ta từ lâu nay mà tôi là một nhân chứng, người
trong cuộc (tôi nguyên là nhạc công piano của Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam 25 năm từ
1979-2004).


Thời Dàn nhạc giao hưởng Việt
Nam (những năm 1980) còn trực thuộc Nhạc viện Hà Nội do ông Nguyễn Văn Thương
làm giám đốc, trong chương trình biểu diễn của dàn nhạc, luôn luôn gần như bắt
buộc phải có tác phẩm “Đồng khởi” của Nguyễn Văn Thương. Sau khi ông về hưu,
tác phẩm này đã không được chơi lại.


Sau đó là thời của giám đốc
Đỗ Dũng hơn 10 năm, ông là một nhà chỉ huy, nhưng cũng tham gia sáng tác và
chương trình biểu diễn của Dàn nhạc giao hưởng cũng luôn phải chơi những tác
phẩm của ông như “Bác Hồ đêm Paris ”. “Mãi dáng Việt Nam”. “Anh không ngủ bởi vì em đang
nhớ”, v.v... Sau khi ông về hưu, những tác phẩm này cũng không ai nhắc đến nữa.


Người kế nhiệm của ông Dũng
là ông Thiều, vốn là nhạc công chơi đàn Nhị của đoàn Tuồng, được phân về làm
giám đốc Dàn nhạc giao hưởng, may mà ông không biết sáng tác, chứ nếu không dàn
nhạc lại phải tiếp tục chơi tác phẩm của giám đốc mới thôi.


Cũng còn có thêm ví dụ nữa
nhưng tôi thấy nêu thế cũng là đủ để mọi người thấy được một thực trạng nghệ
thuật gắn với chức quyền ở Việt Nam.


Tôi xin không bình luận về
những tác phẩm đó, nhưng chỉ nêu lên một quy luật chung là: sau khi tác giả hết
uy quyền, thường nó bị rơi vào quên lãng!


Thời gian càng ngày càng lộ
rõ chân tướng của các kẻ có chức quyền ở Việt Nam, nhất là trong nghệ thuật,
rặt những kẻ tìm cơ hội để kiếm chác, những kẻ nói dối thì sao viết được cái gì
chân thực? Và tôi biết những kẻ dối trá sẽ liên minh sẽ bắt tay với nhau.


Cuối cùng xin nhắc các thính
giả đi nghe nhạc thính phòng giao hưởng là: khi trong chương trình có tác phẩm
của Việt Nam,
hãy tìm hiểu xem tác giả của nó có đang giữ chức quyền gì không? Nếu có thì hãy
nghe nó với tinh thần đó là tác phẩm của ông Giám đốc, hay ông Chủ tịch.