Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

đài nói láo, báo nói điêu

Tôi không phải là một nhà báo, cũng chẳng phải là một nhà văn. Sống ở nước ngoài lâu năm, với vốn liếng tiếng Việt vẻn vẹn có được từ 18 năm khi còn ở nhà cho tới nay. Đọc báo nghe đài tiếng Việt cũng rất hiếm hoi, trừ vài chương trình thời sự hay vui chơi giải trí và cũng chỉ mới đây khi có mạng. Tin hay có, tin xấu có, đúng sai thôi thì có đủ. Với một người như tôi, nói gì sai cũng vô thưởng vô phạt, với những trang blog cá nhân cũng vậy, nhưng còn những tờ báo sống bằng một phần tiền của dân thì sao? Chẳng lẽ họ muốn viết gì thì viết, vung tay bừa bãi, chẳng cần biết đúng sai? Luật pháp để ở đâu? Đạo đức nghề nghiệp có hay chăng? Hay đơn thuần chỉ là viết theo sở thích, viết để xả những bực bội với đồng nghiệp, với cấp trên của mình? 
Thông tin đưa ra một đằng, nhà báo viết một nẻo, hoặc là cắt xén theo ý của mình. Thực ra họ bất mãn trong cơ quan, bất mãn với gia đình hay là thực ra trình độ tiếng Việt của họ quá kém? 
Còn nhớ khi tôi đọc về vụ xe "chính chủ" mà tôi cảm thấy báo chí suy diễn thật là nực cười. Ở nước nào cũng đều có luật đó cả, không riêng gì Việt nam. Phải chăng những nhà báo ấy không biết ngoại ngữ? Họ chưa bao giờ đi ra ngoài? 
Có nhiều điều đọc mà cảm thấy ngang tai trái mắt! Không hiểu Việt nam có luật hay không hay là một xứ sở vô tổ chức, ai muốn làm gì thì làm? Mấy ông bà cầm bút mà thiếu đạo đức như vậy thì cho hết về quê cày ruộng, làm nhà báo chỉ tổ ăn hại thôi.
Còn nhớ mấy chục năm về trước khi mẹ tôi nói một câu với đồng nghiệp của bố tôi rằng "Các anh nghe làm gì, đài nói láo, báo nói điêu" xem ra thời nay càng đúng hơn.
copy cua Karel Phung

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

TOÀ MỸ

***
Thằng bé, chính xác còn là một thằng bé. Tóc quăn, da mịn sáng, bầu bĩnh như một thiên thần. Trong bộ áo tù liền quần màu đỏ, nó liên tục quay qua quay lại gãi mặt xoa cổ. Hai bà luật sư ngồi hai bên cũng liên tục xoa vai vuốt lưng nó, như dỗ dành đứa trẻ con.
Nó, cùng với thằng anh, là thủ phạm trong vụ đánh bom Boston hôm 15/4. 
Viên công tố đọc lần lượt 29 tội nó bị ghép. Tất cả, nó đều trả lời: không có tội.
Không có sức công phá nào mạnh bằng luồng tư tưởng. Chính nó đã cải biến thằng bé 19 tuổi, học cực giỏi,  thành vũ khí giết đi 4 mạng người và  khiến 280 người bị thương.
 Thân nhân của sát nhân. Cô gái bé nhỏ ôm đứa con 2 tuổi trên tay là vợ thằng anh đã bị bắn chết.










Tất cả hoạt động tác nghiệp của phóng viên dừng lại trước cửa toà. Phòng xử chỉ đủ chỗ cho trăm người, nhanh chân thì vào được còn không sang phòng khác coi qua TV. Ngay cả coi qua TV mà hết ghế cũng ra. Im như thóc, không có chuyện đứng ngồi lổn nhổn,  càng không có chuyện như ngu bịa của Triển luật xư trong toà Việt, thị Beo vung tay múa chân oang oang cười nói.

Không quay chụp không ghi âm, chàng phóng viên ngồi cạnh lăm lăm phương tiện hành nghề siêu cổ điển ghé tai hỏi mày nghe thấy không. Mình thì thào lại ia-đai-nao, nghe được chết liền.
***
Mình đồ rằng luật sư sẽ tìm cách vấy tội sang thằng anh. Và bồi thẩm đoàn hầu hết là  ông bà già kia sẽ cho nó cơ hội sống dù công tố ghép đến ba bốn tội khung phải chết. 
Phòng xử quay ra vịnh, nắng nhẹ nhàng rải trên những chiếc thuyền buồm trắng nằm lơ đễnh thảnh thơi. Tại nơi quả bom đầu tiên phát nổ, ngôi nhà đang được xây sửa và sẽ trở thành nơi...bán đồ lưu niệm vụ đánh bom.
Mình sống ở xứ lúc nào cũng  như người sắp bị tai nạn mà hầu như không thể giải thích tại sao, vì lẽ gì phải bất an đên thế.
Lẽ vậy, nên sống sợ hơn chết.
Ưu việt lớn nhất của xứ tự do là chẳng sợ bố con thằng nào, nếu không làm gì sai quấy.
Lẽ vậy nên chết, sợ hơn sống.




Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

LỊCH SỬ ĐĨ VIỆT NAM



Copy của Trần Quang Đức
Lịch sử đĩ Việt Nam chưa ai viết. Nhưng chắc chắn, cái nghề lấy ''lỗ'' làm lãi này là một trong những nghề cơ bản, lâu đời, chưa bao giờ bị cấm tuyệt, dù ở bất cứ nơi nào.
Đĩ thời Lý Trần, hiện chưa có tư liệu đề cập. Riêng thời Lê, đĩ tập trung ở kinh thành, "chỗ nào cũng có", đặc biệt quanh quân doanh. Riêng giai đoạn cuối Lê do có quá nhiều binh lính mắc bệnh giang mai nên triều đình buộc phải "lùng bắt đĩ khắp các phố phường, cạo đầu, phạt trượng rồi đuổi đi" Theo mô tả của Lê Thánh Tông (?), đĩ Lê sơ giọng ẽo ợt, ra vẻ thanh tao, khi gặp nhân tình thì như ''mèo thấy mỡ'', ''xụt xịt rằng tôi thương tôi nhớ'', "bẻo lẻo chào anh ngược anh xuôi" v.v. Vào năm 1501, vua Lê Hiến Tông từng hạ lệnh cấm các quan theo hầu không được mang đĩ đi cùng, bừa bãi tình dục.
Bước vào thời Nguyễn, cũng như Trung Quốc và Triều Tiên, triều đình Việt áp dụng luật nhà Minh, phạt 60 trượng đối với quan lại và con em nhà quan qua đêm với đĩ. Có điều, luật này chỉ áp dụng với quan và con quan hưởng tập ấm, không có hình phạt nào áp dụng lên những kẻ mua dâm, bán dâm, mà trái lại, Nghị định ấn định các thứ thuế thành phố được phép thu trong Hà Nội ban hành ngày 15/3/1892, có quy định "bán thẻ cho gái mại dâm". Như vậy, rõ ràng nghề đĩ đã được công khai, hợp pháp từ thời Lê Nguyễn, và chẳng có can hệ gì tới cái gọi là ''thuần phong mỹ tục''.
Nhân tiện nói đến mỹ tục và truyền thống, tôi muốn lưu ý rằng, việc đề cao trinh tiết bất quá chỉ được đẩy mạnh vào thời Nguyễn, và được repeat đến phát ngán vào thời đại này mà thôi.
Đối với phụ nữ miền Bắc, vẫn theo Sơn cư tạp thuật, "tục nước ta đối với việc phòng thân của đàn bà rất là sơ lược, đã hở người lộ mặt, lại còn cùng con trai chung đường chung giếng, giẫm cỏ xem trò, lại còn cùng con trai kề vai chạm lưng, đến khi có người mai mối thì phần nhiều đã mất trinh rồi." Trong cuốn "Lịch sử tự nhiên, dân sự, chính trị Đàng Ngoài", Richard cho biết "những người phụ nữ bình dân có quyền tự do đi chơi và chăm lo những công việc bên ngoài, còn những người vợ của các viên quan lại và những người phụ nữ đặc biệt khác thì bị quản lý chặt chẽ gần giống như những người phụ nữ Trung Hoa. Nhiều người phụ nữ này được coi như vô cùng dễ dãi. Họ buông thả mình cho những người ngoại quốc với một cái giá rất xoàng và sau đó kịp thời kết hôn với người ngoại quốc kia. Người ta đã tìm kiếm họ cho những chuyện đó. Họ được lựa chọn chồng theo ý muốn, quyền hạn mà những người phụ nữ Trung Hoa không có được".
Còn đối với phụ nữ miền trong, John Barrow mô tả phụ nữ Nam Hà vào những năm 1792 - 1793, được phép tự do quan hệ tình dục, ngay cả con gái quan lại cũng từng có nhiều cô quan hệ với Tây để kiếm ít lợi lạc. Vài chục năm sau đó, vua Minh Mạng nhận định, "dân phong tập thói kiêu sa, dâm đãng", "đám đàn bà Gia Định rất dâm đãng", "bọn đàn bà dâm đãng, phóng túng, cư xử của chúng thật quá kinh tởm. Bọn đàn ông vốn đã chơi bời phóng đãng thì sao có thể đòi hỏi tiết hạnh của đám vợ ?"
Tóm lại, qua phần khảo cố gắng bó gọn hết mức này, tôi kiến nghị:
1. Hợp pháp hóa mại dâm.
2. Giải phóng phụ nữ.
3. Thay vì rao giảng đạo đức, truyền thống, hãy giải phóng thế hệ sau ra khỏi nhà tù tư tưởng mà thế hệ này tự huyễn hoặc!

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

CHÍNH KHÁCH VÀ TRUYỀN THÔNG-chính chuyện-hết

*** Quay lại chuyện Obama của entry mở đầu.

Tại sao chính khách ta ứng xử với tân truyền thông (và cả big 7) trái ngược hẳn với trào lưu văn minh này của thế giới?

Có 2 chiều của vấn đề, chính khách tận dụng truyền thông để phục vụ lợi ích mình ra sao và ngược lại.

Chắc chắn sẽ có bạn rủa thầm, tưởng mụ Beo viết cái gì sốc và độc, hóa ra ba chuyện đồng nát. Xin thưa, chính những gì tưởng như đồng nát ấy là viên gạch xây nền tảng tư duy của chính khách đấy.

Obama và truyền thông là hai thực thể độc lập, ông ta khéo léo dùng truyền thông để truyền bá thông điệp của mình. Chính khách ta tham gia vào truyền thông như một thành viên, với quan niệm thành văn: báo chí là của Đảng.

Khi bạn tự nói về mình, thì độ tin cậy còn bao nhiêu phần trăm?

Tuy nhiên, trong trình độ dân trí của ta, việc phân biệt sự khác nhau như trên là rất khó. Thế nên, chính khách cứ thế, điềm nhiên mà hưởng lợi từ truyền thông mang lại.

Dẫn giải cụ thể, thế này.

Báo chí phanh phui tiêu cực, dân dã gọi đánh ông nọ bà kia. Biên độ cái sự “đánh” này, nay gần như không có giới hạn khi đến nguyên thủ, bộ trưởng...cũng bị “phang” tơi bời trên mặt báo.

Thế nhưng, đánh như vậy có thêm lợi ích gì, tiến trình có thêm ấy sẽ dẫn tới đâu...tịnh chẳng ai màng. Chỉ biết chắc rằng, dân chúng thỏa mãn và độ tin cậy, đang có người đấu tranh cho lợi ích của họ, vẫn được nuôi dưỡng trong dân. Cái này, Beo gọi là hưởng lợi chủ quan.

Ví dụ khác. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các ông lớn truyền thông nay không dám coi thường bất kì thị trường lớn bé nào và hẳn nhiên, chẳng ai hộ chiếu từ dải đất èo uột này nhưng ông nào cũng nằm lòng câu qua sông lụy đò. Mở đầu là mấy tờ báo in và kênh TV giải trí, chấp nhận bị biên tập nội dung không phù hợp thuần phong mỹ tục khi sản xuất tại VN. Nay tiến sang mảng kinh tế và sắp tới là mảng chính trị xã hội, chắc chắn sẽ phải chấp nhận điều khoản không đi ngược với đường lối chính sách của Đảng và chính phủ Việt (bằng câu chữ ngôn ngữ ngoại giao chứ không thẳng toẹt như Beo, dĩ nhiên). Đừng mang truyền thông thế giới vào mà dọa chính khách Việt. Cái này, Beo gọi là hưởng lợi khách quan.

Trong xã hội báo chí và chính khách là một thì chính tân truyền thông sẽ trở thành những nhà báo thực sự khi có đủ những tố chất cơ bản của truyền thông chuyên nghiệp như: trung thành với công dân, độc lập với đối tượng đưa tin và cung cấp một diễn đàn tự do cho mọi sự bày tỏ của công chúng...

Nhưng, tân truyền thông vào Việt Nam lại gặp hàng loạt vấn đề nội dung trong quá trình trở nên văn minh như hình thức mà nó có: thứ nhất là văn hóa nghiện tin nhảm; thứ hai là phụ thuộc (gần như hoàn toàn) vào nguồn tin từ báo chí chính thống; thứ ba, điểm Beo cho quan trọng nhất, phần lớn giới trí (not chí) thức-những người cầm đầu thông thái cho mọi cuộc chơi- chưa mặn tân truyền thông.

Hãy đọc kĩ ba điểm Beo nêu để thấy tại sao tân truyền thông bá láp như hiện đang và tại sao Beo luôn luôn nhận định, bloggers lề trái chưa bao giờ trở thành vấn đề đáng để tâm với chính quyền.

Bô Shit ư Quan làm báo ư? Một cua trong chậu một sóng trong tách trà, chỉ vậy thôi!